Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Góc suy ngẫm’ Category


Lan Man Chuyện “Tám”
Mình thứ tám trong gia đình, lớn lên đi làm nhờ có chút địa vị nên ít người gọi tên mà thường gọi thứ như: Chú Tám, Anh Tám. Có điều mình bức xúc là thứ Tám hay được dùng trong một số tiếng lóng chỉ những sự “không hay” như “bà Tám” chỉ người nhiều chuyện, “bỏ đi Tám” là người nói cố ra vẻ ta đây …. Tôi tìm hiểu hoài nhưng ít có giải thích thỏa đáng nên tự nghĩ ra cách giải thích của mình cho bạn bè nghe chơi. Ai có cùng thứ Tám như mình thì có ý kiến thêm.
1. TÁM LÀ NHIỀU CHUYỆN
Tám là nhiều chuyện, là nói nhiều. Chắc chắn đây là tiếng lóng miền Nam, còn ngoài Bắc thì người ta thường nói là buôn dưa lê (dù nghĩa có hơi khác chút xíu).
Tại sao người ta nhiều chuyện lại là 8, mà hổng phải 6, 7, 9…? Có người giải thích là do hồi xưa trên radio có chương trình bà Tám kể chuyện cho con nít nghe. Có người nói do hồi xưa có tổng đài 108 (và 1088) chuyên trả lời thắc mắc đủ thứ trên đời.
Tôi hổng tin lắm, vì kể chuyện đời xưa như bà Tám hay giải đáp thắc mắc qua 1088 đâu có đúng kiểu 888 như bây giờ!
Hay là tại mấy bà thứ Tám nói nhiều hơn mấy bà thứ Sáu, Bảy?. Hổng chắc, vì đã là phụ nữ đâu có… bà nào “tám” thua bà nào!
Cái cảm giác cá nhân của tôi là âm Tám nghe có vẻ… bép xép, lắm điều hơn mấy con số khác (thử đọc Chín coi, đọc một cái là nghe… nín liền!)
Tuy nhiên, theo An Chi thì “Tám” (nhiều chuyện) có xuất xứ như sau:
“Bà Tám” là một hình thức sao phỏng (loan translation), có lẽ bắt đầu ở tiếng Việt miền Nam. Mà ở miền Nam thì bắt nguồn từ tiếng Quảng Đông là “pát phò”
[八婆], đọc theo âm Hán Việt là “bát bà”, dịch đúng nghĩa gốc là “bà tám”. Đây là một đặc ngữ của tiếng Quảng Đông ở Hồng Kông, dùng để chỉ người phụ nữ hay để ý hoặc bàn tán đến chuyện của người khác; hiểu rộng ra, là người đàn bà nhiều chuyện. Ở những địa phương khác của Trung Quốc gọi hạng đàn bà này là “trường thiệt phụ” [長舌婦], nghĩa đen là “con mẹ lưỡi dài”.
Trực tiếp đóng góp vào sự ra đời của danh ngữ “Bà Tám” này trong tiếng Việt là dân làm ăn liên quan đến làng điện ảnh và truyền hình. Sau khi phim Tàu, đặc biệt là phim Hồng Kông nói tiếng Quảng Đông, được một vài đài truyền hình phát sóng thì phát sinh yêu cầu phải thuyết minh hoặc lồng tiếng. Để làm vậy, trước hết phải dịch. Khốn khổ thay, người dịch có lẽ cũng chạy theo nhịp điệu hối hả của thị trường chứ nào thực sự yêu mến tiếng Việt, thực sự thấu hiểu từ nguyên. Chưa kể trong đó có thể có cả những tay người Việt gốc Hoa thì làm sao tránh khỏi chuyện “pát phò” trở thành “bà tám”! Trong khi đó, tiếng Việt đâu có thiếu từ, ngữ tương ứng với khái niệm “con mẹ Tám” của người Quảng Đông!
“Bà Tám” dần dần đưa đến từ “Tám” phát sinh bằng cách ngắt bỏ từ “Bà” đằng trước, nhiều phần cũng là do nhu cầu động từ hóa. Thế là có động từ “Tám” và danh ngữ “Bà Tám” – mẹ đẻ của nó – tồn tại song song trong khẩu ngữ. “Bà Tám” dùng để chỉ những người nhiều chuyện, còn “Tám” thì dùng để chỉ hành động nhiều chuyện của những người này.
2. BỎ ĐI TÁM
Bỏ đi Tám cũng là tiếng lóng miền Nam, nhưng khác với Tám với ý nghĩa nhiều chuyện là nó ra đời rất lâu trước 1975 (và bây giờ ít dùng).
Bỏ đi Tám có nghĩa là: Thôi, bỏ đi; bỏ qua đi… với tư cách là một người ở bậc cao nói với người ở bậc thấp hơn (ở đây là mặc định là Tám). Thời trước 1975, từ Bỏ đi Tám dùng khá phổ biến để đến Nhạc sĩ Phạm Duy có nhạc phẩm: Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ qua đi tám. Thế đấy!
Lại tiếp tục câu hỏi: tại sao không là bỏ đi Hai, Ba, Bảy, Chín… mà lại là bỏ đi Tám?
Cũng như trong gia đình, người Sài Gòn xưa đã thẳng thắn phân chia thứ bậc của các tầng lớp xã hội một cách rạch ròi cho dễ dàng ứng xử và giao thiệp hàng ngày ngay từ thời Sài Gòn còn phôi thai mở mang dọc kinh Bến Nghé.
Vị trí thứ NHẤT: Quyền lực cao nhất ở Saigon thời xưa là những quan Tây cầm đầu guồng máy nên không thứ hạng gì cả và không kể là anh em trong nhà.
Vị trí thứ HAI: Đó là các thầy Thông, thầy Phán, thầy Ký là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các "THẦY HAI THÔNG NGÔN", hay "THẦY HAI THƠ KÝ"…
Vị trí thứ BA thuộc về các chú người Trung Hoa, họ gần như nắm trọn guồng máy kinh tế của Sài Gòn. Đó là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống "bang hội" tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các "chú Ba Tàu" nghiễm nhiên là 1 thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó. Họ là chủ các vựa hoặc các doanh nghiệp dọc con kinh Bến Nghé. Gọi CÁC CHÚ BA TÀU là vậy.
Thứ TƯ thuộc về những tay anh chị hùng cứ mỗi người một khu vực và sẵn sàng dùng dao búa để bảo vệ lãnh thổ của mình hay chiếm đoạt lãnh thổ của các tay anh chị yếu hơn. Đó là các "đại ca" giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và "vô thiên vô pháp" nhưng khá "tôn ti trật tự (riêng)" và "có đạo nghĩa" chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm "trẻ trâu" hiện đại. Các "ANH TƯ DAO BÚA" vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.
Phá rối bạn hàng, giựt dọc, chôm chỉa, mánh mung, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm… là những tài mọn của mấy ANH NĂM ĐÁ CÁ LĂN DƯA (đi ngang đá cá văng khỏi sạp cho đứa khác chụp hay lăn cho dưa đổ để đứa khác ôm chạy).
Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các "thầy Sáu phú-lít (police)", "THẦY SÁU MÃ TÀ", "THẦY SÁU LÈO". Thời xưa, Sài Gòn cũng có dân buôn bán vỉa hè và thường bị đuổi bắt. Khi thấy mấy anh quần trắng áo trắng (cảnh sát) với cái dùi cui trắng ló đầu là bạn hàng rối rít: "Anh Sáu tới tụi bây ơi" rồi mạnh ai nấy thu vén hàng gánh chạy thục mạng. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các "thầy Sáu" này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn "hối lộ" của họ để "nhẩm xà" (uống trà). SÁU MÃ TÀ hay SÁU LÈO chính là mấy anh Sáu bạn dân này.
ANH BẢY CHÀ (VÀ) là tên người Sài Gòn đặt cho mấy người Ấn Độ vì họ tuy hiền hòa hơn nhưng cũng có quyền sinh sát trong tay. Họ vừa giàu vừa ít bị "ghét", vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm. Những người Ấn giàu có thì mở tiệm cầm đồ hay cho vay nặng lãi.
Nhân đây nói thêm về Chà Và: Dân mình kêu Chà Và là ám chỉ người Java (Indonesia). Việc xuất khẩu lao động của người Java sang Việt Nam có từ thời rất xa xưa, trước thế kỷ mười tám mười chín. Người Java – tức Chà Và – (thuộc Indonesia) làm gác dan, cho vay tiền, làm thư ký hay kế toán công sở thời Pháp thuộc… Với nhiều người, khi dùng từ Chà Và là để chỉ bao gồm các tộc người vùng biển đảo phía nam Ấn Độ… riết rồi dùng chữ Chà Và để đặt tên hết mấy người Nam Á, miễn là đen thui, tóc quăn, mũi cao, to cao hơn người Việt. Kể cả người Chăm vùng Tân Châu, Châu Đốc có vóc dáng giống như vậy cũng được gọi là Chà Và… Nhắc Chà Và… làm tôi nhớ đên bài hát mà đám con nít chúng ta hồi đó hay ê a: “Chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà, chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà… Chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà, chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà…”. Tuy da đen nhưng răng người Java thì trắng nhỡn và đều đặn. Trước năm 1975 hãng kem đánh răng Hynos có lấy hình tượng “Anh Bảy Chà” là bức hình của một người đàn ông Chà Và cười nhe hai hàm răng trắng bóng nhỡn để treo bảng quảng cáo tận hàng cùng ngõ hẽm. Còn trên radio chương trình thương mãi thường ca quảng cáo: Em yêu anh, em yêu anh, anh Bảy Chà da đen!
Bây giờ mới đến anh Tám. Đó là những tá điền vì ruộng vườn thất bát từ tứ xứ đổ xô về Sài Gòn, là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lục làm vốn nuôi miệng. Họ làm cu li khuân vác, gánh nước bồng em, hay khá hơn chút thì thuê được một chiếc xe kéo để kéo đưa các thầy Hai, chú Ba đi làm đi ăn. Họ là những chị Tám đi ở đợ đêm đêm tụ họp ở những phông tên công cộng chờ chực gánh về từng đôi nuớc cho chủ. Họ chỉ mong đánh đổi sức lao động của mình kiếm được miếng cơm cho mình và cho gia đình mòn mỏi chờ trông.
Tận cùng xã hội là những người chỉ có thể đánh đổi cái vốn sẵn có của mình để mong thoát khỏi cái số con rệp từ khi mới sinh ra. Họ là những chị CHÍN BÌNH KHANG.
Như vậy chữ Tám trong bỏ đi Tám chính là chỉ những người thuộc tầng lớp bình dân, thấp cổ bé miệng này.
Lan man một chút chắc có gì là đúng. Mong bạn bè góp thêm. Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, "bỏ qua đi Tám"!

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Read Full Post »


Trẻ Con Xưa Và Nay: Ai Khổ Hơn?
Tôi có 2 đứa cháu nội. Đứa lớn 6 tuổi đã học mẩu giáo. Đứa nhỏ mới 8 tháng tuổi. Nhìn sinh hoạt hằng ngày của cháu 6 tuổi, tôi thường có ý nghĩ: "Trẻ con chúng mày thời nay sướng, thời xưa của ông bà khổ lắm". Chắc nhiều vị cùng thời với tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng suy cho cùng tận thì tôi thấy mình nghĩ sai và vị nào có cùng ý nghĩ như trên về con cháu của mình thì làm ơn nghĩ lại đi. Thời xa xưa thiếu thốn thật, nhưng chưa chắc trẻ con thời xưa đã khổ bằng đám trẻ thời nay đâu.
Thời xưa, chuyện học hành của lũ trẻ nhàn hạ lắm. Học ít vô cùng, mà chơi nhiều hơn. Trẻ em ngày xưa, đa phần chỉ học một buổi, sáng hoặc chiều trong ngày, chương trình học cũng rất nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi. Hồi ấy, hiếm thấy đứa nào bị cận thị hay gù lưng, vẹo xương sống vì phải vác theo những chiếc cặp nặng trịch hay còng lưng ngồi làm bài tập liên miên. Cặp sách chỉ có vài quyển vở được bọc bằng giấy báo, giấy bìa màu xi-măng, sang lắm là giấy gói quà loại mỏng và sách học, cái hộp bút nhựa đựng thước kẻ, bút chì, gôm và viết lá tre, thêm cái bình mực không đổ nữa là quá đầy đủ. Phương tiện đến trường chủ yếu của tụi nhỏ chính là xe “căng hải” (hai cẳng – đi bộ). Cả đám gần nhà thường chờ nhau, xúm xít dàn hàng năm hàng ba, vừa dắt nhau đến trường vừa cười đùa ríu ran. Hiếm lắm mới có chuyện ba mẹ dắt con hay anh chị lớn chở em nhỏ bằng xe đạp đến trường. Học ít vào giờ chính khóa, nên bọn trẻ có rất nhiều thời gian để phụ giúp cha mẹ làm việc nhà, hoặc tụ tập đi chơi cùng nhau. Bọn trẻ ngày xưa thường chơi những trò chơi dân dã, không tốn tiền và luôn cần thật nhiều người cùng tham gia chơi, càng đông càng vui. Chỉ cần một khoảng sân rộng, vài ba hòn đá, cục cu li…. là đủ để lũ nhóc chơi đủ trò từ bắn bi, đánh đáo, cò quan hay bịt mắt bắt dê cũng đủ để những tiếng cười giòn tan vang lên. Những trò chơi phổ biến của các bé trai hồi đó là thả diều, đánh quay, bắn cu li; con các bé gái đặc biệt yêu thích trò là nhảy dây và chơi chuyền. Chỉ với những sợi dây chun bé xinh, các bé gái có thể tết thành những sợi dây dài miên man để chơi các kiểu khác nhau, đơn giản nhất là quăng dây theo vòng tròn với nhịp độ nhanh – chậm linh hoạt để các bạn khác nhảy qua, phức tạp hơn là kiểu nhảy theo bậc, người chơi phải nhảy đúng bài và độ cao tăng dần, từ đầu gối đến khuỷu tay rồi kiễng chân… Tinh thần tập thể, đoàn kết (nói cho oai, chứ chủ yếu là rủ nhau đi chơi hoặc bảo vệ nhau những lúc bị ba mẹ phát hiện, đánh đòn) và kỹ năng sống của bọn trẻ hồi ấy rất tốt. Tối đến là đám trẻ như bọn tôi chạy như giặc ra đường. Một khoảng sân trống chơi trò đuổi bắt, một góc chơi trốn tìm, góc khác thì cò quan, banh đũa, nhảy dây, song phi… Đường xá thời đó tối đến là vắng hoe, dựng gạch đá banh giữa đường thi thoảng lắm mới có chiếc xe chạy qua. Chơi xong, về tới nhà là đứa nào đứa nấy mồ hôi mồ kê toát rã, mệt nhưng vui. Sau này lớn lên, chính những trò chơi tuổi thơ lại là chất keo gắn kết những đứa trẻ năm xưa mỗi khi có dịp gặp lại nhau. Hơn thế nữa, trẻ con thời xưa chơi toàn là những môn vận động nên sức khỏe đứa nào cũng tốt. Có dính tí mưa, tí gió máy, thậm chí đá bóng sứt chân, dẫm phải mảnh thủy tinh thì cũng vài ngày là liền.
Còn ngày nay, việc học quả thực là một gánh nặng, không chỉ với các em nhỏ, mà còn chính cả với phụ huynh. Chương trình học kín mít hai buổi, rồi học thêm buổi tối, cuối tuần… liên miên mà có khi bài vở vẫn chưa hoàn thành hết. Chương trình học, với nhiều ông bà, ba mẹ quả thực là “khủng khiếp”, vì nhiều ba mẹ có học cao cũng không “nhai” nổi bài vở của con. Cứ nhìn vào chiếc cặp đến trường, đeo đến xệ vai vì đầy các loại sách vở của tụi nhỏ ngày nay thì hiểu, chúng phải nỗ lực thế nào để hoàn thành chương trình học. Học ban ngày chưa đủ, tan trường, nhiều trẻ ngày nay lại phải theo học các lớp học thêm để theo kịp kiến thức. Nhiều khi, bọn trẻ về nhà khi trời đã tối mịt. Tiếng cười cũng thưa dần do những mệt mỏi, áp lực từ việc học. Kỹ năng sống, khả năng giao tiếp của trẻ nhỏ vì thế cũng kém hơn, và điều này, thật tréo nghoe, lại làm nảy sinh ra những khóa học mới về kỹ năng sông vào thời gian trống.
Với lịch “chạy show” kín đặc như thế, cộng với việc giao thông phức tạp khiến các bậc cha mẹ không thể để con đến trường một mình mà luôn đưa đón con tận nơi, hoặc cùng lắm thì để con đến trường bằng hệ thống xe đưa rước của nhà trường. Ngày nay, không hiếm chuyện nhiều cô cậu đã học cấp 3 mà vẫn chưa biết đi xe đạp, vẫn phải để ba mẹ đưa đón hàng ngày. Trẻ con thời nay tối đến là ngồi chết dí trong nhà, nếu không phải è cổ học hết môn trên lớp tới môn phụ đạo, thì cũng cắm mặt vào Iphone, Ipad chơi điện tử hoặc xem hoạt hình. Hàng xóm láng giềng thì ít được giao lưu, trẻ con chỉ biết duy nhất ông bà, ba mẹ hoặc cùng lắm thì họ hàng, bạn cùng lớp. Lớn lên, những ký ức tuổi thơ của chúng sẽ là gì đây? Thi thoảng ba mẹ cho ra công viên chơi, lỡ gặp hôm trái gió trở trời thì y rằng mũi họng lại thậm thịch. Nhẹ thì sổ mũi, viêm họng, nặng thậm chí còn viêm phổi. Vì sức đề kháng của trẻ con thời nay kém rất xa so với trẻ con thời xưa một phần vì chúng ít vận động, một phần vì các đô thị lớn không khí đều ô nhiễm nặng.
Cũng vì việc học hành ngày xưa không mấy nặng nề, nên nghỉ hè là nghỉ hè đúng nghĩa. Hiếm khi khái niệm “học phụ đạo hè” tồn tại trong những tháng nghỉ ngơi của bọn trẻ. 3 tháng hè, trẻ con thời xưa thường được vui chơi xả phanh với đủ thứ trò chơi mà bọn trẻ nghĩ ra được như tắm sông, bắt chuồn chuồn, thả diều…. Trẻ con thời xưa chạy đâu cũng có chỗ chơi. Đường phố bình yên, ba mẹ có thả con ra đường chơi cả tối cũng chẳng cần lo lắng nhiều. Cha mẹ thời ấy cũng vất vả làm việc, bận rộn chẳng kém thời nay, nên những tháng hè, bọn trẻ thường tụ tập tự chơi với nhau, thậm chí tự học cách xoay sở chuyện cơm nước, tự chăm sóc mình khi ba mẹ vắng nhà.
Còn ngày nay? Có cảm giác, kỳ nghỉ hè của trẻ em càng lúc càng ngắn hơn. Có hàng nghìn lý do để ba mẹ rút ngắn kỳ nghỉ hè của con mình, nào là phải học các môn năng khiếu như múa hát, mỹ thuật, nào là phải học thêm (học trước chương trình năm học mới) ở nhà cô giáo hoặc trung tâm để năm học mới không bỡ ngỡ… Thế là, 3 tháng hè chỉ còn là lý thuyết, trên thực tế, nhiều trẻ chỉ được nghỉ khoảng 2 tuần, và hoàn toàn xa lạ với những trò chơi mà thế hệ xưa từng mê mẩn. Và có vẻ, ba mẹ ngày nay còn bận rộn hơn nữa, khi cứ đến kỳ nghỉ hè của con, dù đã rất ngắn rồi, nhà nhà vẫn cuống cuồng chuyện tìm lớp cho con và tìm chỗ gửi con, vì không thể an tâm để chúng ở nhà một mình. Trẻ con ngày nay được cưng chiều hơn rất nhiều, và nhiều ba mẹ với quan điểm: con chỉ việc học, tất cả việc khác đã có bố mẹ lo, đã biến chúng thành những chú “gà công nghiệp”. 1 ngày không có lớp để học, không có người kè kè chăm sóc, đó là một vấn đề lớn với trẻ em ngày nay.
Trẻ con thời nay biết chơi ở đâu? Công viên thì xa, lắm tệ nạn. Đường xá thì xe cộ chạy suốt ngày, vỉa hè bị chiếm dụng, ra đường ngay ngáy lo bị bắt cóc. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ chui vào trung tâm thương mại, siêu thị, đi một vòng ăn cái xúc xích, ngắm ít quần áo, chơi game rồi về.
Trẻ con thời nay tí tuổi đầu mà cái gì cũng biết. Iphone của mẹ, Ipad của ba mở liền tay, tự tìm vào Youtube, tự tìm phim ngồi xem vài tiếng.
Trẻ con thời xưa ngố đặc. Đầu phố có ông mua được cái truyền hình Denon Perfectvision đen trắng có chân, cả xóm kéo đến xem cải lương. Ông già rồi nên đi ngủ sớm, dặn lũ trẻ xem xong thì tắt truyền hình dùm ông. Cả lũ ngố xem xong không biết tắt thế nào, cứ ngồi đực ở đó đến khuya ba mẹ sang gọi mới về.
Có một chuyện thú vị là bọn trẻ con ngày xưa… ở dơ hơn trẻ con bây giờ nhiều lắm! Chúng có thể ăn uống rất linh tinh vớ vẩn những thứ như quả ổi, trộm me, trộm xoài nhà hàng xóm rồi chén ngay khi còn vắt vẻo trên cây. “Sang” hơn là các món vặt vãnh như cà rem, kẹo kéo, ô mai, đá nhận si rô … mà chả mấy khi phải nghĩ ngợi mấy đồ ăn đấy có an toàn hay không. Ước mơ của mọi đứa trẻ khi xưa là được mẹ cho vài đồng, hoặc gom tóc ve chai trong nhà để đổi lấy những thứ quà vặt hấp dẫn kia.
Ngày nay, trẻ con được ba mẹ chăm sóc rất kỹ lưỡng, không bao giờ có chuyện ăn uống mấy thứ từng là “đặc sản” với thế hệ trước. Cha mẹ ngày nay thường chỉ cho con ăn hoa quả, đồ ăn vặt kiểu phô mai, xúc xích, yaourt… mà phải thứ nhập khẩu cho đủ “chất”, hoặc cùng lắm là cho bọn trẻ ăn thức ăn nhanh và các loại nước ép, trà sữa, nước ngọt, tốn kém hơn rất nhiều.
Chuyện tắm của trẻ con ngày xưa và ngày nay cũng khác nhau. Như trẻ con ngày xưa, bọn trẻ ngày nay cũng rất thích việc dầm mình trong những cơn mưa rào bất chợt, thích được chạy nhảy trong mưa và hất tung những giọt nước của trời lên người mình. Với trẻ con ngày xưa, mỗi trận mưa rào đổ xuống mùa hè là một lần vui như hội. Không ai bảo ai, mỗi đứa đều nài nỉ bố mẹ cho được tắm mưa, rồi sau khi được phép thì liền ào ngay ra đường, nơi có những “chiến hữu” đang đợi sẵn. Chúng bày đủ mọi trò chơi dưới mưa. Hết rượt đuổi nhau trong mưa, ném bùn đất vào nhau, xây lâu đài, hoặc đào những hố nhỏ rồi đào kênh dẫn cho nước chảy vào… Nhưng ngày nay, thường thì các ba mẹ, dù từng có một quá khứ chinh phục ao hồ sông suối, lội bùn tắm mưa, khó có thể chấp nhận rủi ro về sức khỏe cũng như sự sạch sẽ của con mình mà thả rông cho chúng vầy nước mưa. Và việc để cho lũ trẻ chạy rong trên nền đất sình lầy, dưới cơn mưa lạnh lẽo có lẽ là không tưởng. Làm sao những ông bố, bà mẹ nuôi con theo khoa học dám để con trầm mình dưới làn nước ào ào như thác đổ, khi mà có biết bao nhiêu thứ dơ bẩn đang ẩn mình trong đó? Để an toàn, bọn trẻ ngày nay sẽ được chơi nước trong những bể bơi nhân tạo, biển nhân tạo được kiểm soát chất lượng nước cũng như có người trông nom. Hiếm thấy đứa trẻ thời nay được tắm mưa thoải mái, hay nhảy òm xuống ao, hồ nào đó mà tập bơi, vầy nước.
Nhưng trẻ con thời xưa được ba mẹ dạy kỹ năng sống rất tốt. 5, 6 tuổi là tự biết buộc dây giày, biết dọn mâm phụ ba mẹ, biết xới cơm, biết tự tắm rửa, tự đánh răng. Bố mẹ đi làm cả ngày, ở nhà tự chăm sóc bản thân, không mè nheo.
Trẻ con thời nay Iphone biết mở, nhưng đôi giày không biết buộc dây. Đi học lớp 1 mà cơm vẫn chưa tự xúc. Đọc vanh vách các kiểu tóc hợp mốt, nhưng tóc thậm chí còn không biết chải, biết buộc.
Trẻ con thời xưa được bố mẹ mua cho món quà gì thi coi như báu vật.
Trẻ con thời nay dư thừa vật chất, đồ chơi mới dùng được 3 bữa là vứt, đòi cái mới hơn.
Trẻ con thời xưa đến Tết mới có quần áo mới mặc. Quý lắm, ôm bộ quần áo đi ngủ, mặc mãi không chịu thay.
Trẻ con thời nay quần áo đẹp mặc quanh năm. Tết đến có mặc đồ mới hay cũ cũng chẳng quan trọng nữa.
Trẻ con thời xưa thiếu thốn, nhưng cuộc sống luôn đầy màu sắc và những niềm vui đi theo suốt cuộc đời.
Trẻ con thời nay năng động hơn, thông minh hơn, đẹp hơn, nhưng học hành cũng vất vả hơn, hiểu biết về giá trị cuộc sống cũng thấp hơn.
Có thể thấy, dù thiếu thốn về vật chất nhưng đời sống tinh thần của trẻ con ngày ấy có thể khiến thế hệ trẻ bây giờ phải thèm thuồng, và nhiều người lớn xót xa: ước gì họ có nhiều thời gian, và không gian hơn, dành cho tuổi thơ của con mình.
Ai nói trẻ con thời xưa khổ hơn nào?

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, ngoài trời

Read Full Post »


Than!
Từ trước tới giờ, khi gặp những oái quăm, trắc trở trong công việc hay trong đời sống, tôi cũng như bao người khác cứ hay than. Dù không than với ai cả mà tự than với chính mình. Mà cái sự đời cũng lạ kỳ: càng tự than thì càng khó chịu, càng mất ngủ. Gần đây tôi trãi nghiệm ra rằng: Than làm gì hả. Cái gì tới sẽ tới. Không tới có chờ mỏi cổ nó cũng chẳng đi ngang cho mình nhìn chứ đừng nói tới với mình. Giờ tôi không còn bận tâm đến than nửa.
Mà tôi ngẫm lại sự đời thấy cũng kỳ: người có tiền cũng than, không tiền cũng than. Người có hạnh phúc thì nhiều khi nhìn họ cũng đâu biết họ có hạnh phúc. Tôi nói tôi hạnh phúc người ta không tin, nói không hạnh phúc người ta cũng không tin!. Có đôi lúc mọi người thấy tôi cười mĩm một mình vì thực sự đời sống nhiều khi đưa đến tôi những trò oái quăm đến không tưởng. Khóc có được gì, tôi cười đại cho qua chuyện, cười xong rồi ngồi xuống suy nghĩ làm sao đối phó đến điên đầu nhưng có ai biết đâu. Nhiều khi không biết trong cơ thể tôi có chỗ nào toàn không khí mà tôi cứ cảm trong người một sự trống trải tới cùng cực. Muốn lấy ngay sự trống trải ra bằng được cho nó đỡ khắc khoải mà cũng phải bó tay ngồi chờ nó “quầng” mình chán rồi nó đi chứ biết làm sao.
Bây giờ ngẫm nghĩ tôi thấy tôi hoàn toàn không có một quyền lực nào, cứ chờ hết vận này, vận may kia. Thôi thì chỉ còn biết cám ơn một khắc an lành, một giây yên ấm, nó đến thì vui, nó không đến tôi chờ, sẽ chờ và chờ mãi.
Còn biết làm gì hơn với đời, nên tôi không còn than. Chỉ còn biết chờ an lành, chờ và chờ thôi.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, văn bản, thiên nhiên và ngoài trời

Read Full Post »

Older Posts »

%d bloggers like this: