Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Tạp ghi chung’ Category


Nét Hương Yêu
Số là thế này: Chẳng qua có ngày rỗi, mình cũng gác mọi chuyện lại nghỉ ngơi một bữa, sắp xếp lại cái tủ sách, thì bỗng thấy cái hộp giấy cũ, mở ra thấy vợ cất kỹ những bức thư tình ngày xưa mình viết… cho bà ấy. Mình mở ra xem thoáng và nghĩ: Chẳng qua là bà ấy muốn giữ cho kỹ để lâu lâu lỡ mình làm cái gì không vừa ý, sai với lời hứa khi xưa thì bà ấy lại đưa ra: “Nè, anh ơi, ngày xưa anh hứa làm sao có nhớ không? Có cần em đọc lại không nhỉ?” Hihi… Quả thật nhất vợ nhì trời, trời sinh ra vợ có lắm chiêu để lên gân với chồng quá, nhưng bằng chứng là những bức thư rành rành kia, chẳng lẽ mình bội ước sao? Rồi lại nghĩ thêm: Xã hội phát triển theo từng ngày từng giờ, nhất là trong thời kỳ công nghệ thông tin, computer, smartphone rộng khắp nên lắm khi nhịp sống con người hiện tại cũng hóa thành máy móc lúc nào chả hay, không chừng tình yêu nó cũng được lập trình chứ e rằng khó được thi vị, lãng mạn như trước kia. Thật vậy, khoa học và công nghệ đưa con người ta tới sự thoải mái và hoàn thiện, nhưng cũng khiến con người ta lắm khi khô cứng và rập khuôn như máy móc.
Nhân việc này mà mình lại nghĩ đến một NÉT HƯƠNG YÊU lâu nay chúng ta thường chạy theo nhịp sống hiện đại mà để quên đi việc này: Đó là VIẾT THƯ TÌNH.
Tôi gọi thư tình là nét hương yêu cũng không quá đáng lắm đâu, vì ngoài những bức thư ta viết bằng những lời “xạo ke” được sắp đặt sẵn để "câu" ai đó với ý đồ xấu thì cũng là thư, nhưng không có hương yêu trong đó, cho nên những bức thư có tính toán này theo tôi chẳng nên gọi là thư tình được, thư tình đúng nghĩa không chỉ là hương yêu thôi mà còn là tấm lòng, lắm khi bâng quơ vô vị và vô cũng lãng nhách, nhưng nó thật, và vì thật nên nó đáng yêu là vậy. Lắm bức thư tình ngày nay đọc lại thấy cười muốn nôn cả ruột, nhất là khi con cháu nó lôi ra xem, nó làm như giám khảo chấm bài thi Văn mà chiết tự từng chữ để mà chứng tỏ ba hoặc ông nó sao mà sến đáo để, có lúc nó bảo rằng ba hoặc ông khôn thiệt, yêu thì nói đại yêu cho rồi, còn bày ra câu nghi vấn để khẳng định: "Em có biết rằng anh yêu em như thế nào không?" Trời ạ! SẾN đến thế là cùng. Tôi liền đớp lại ngay: Ba (hoặc ông) hỏi con cái từ "I love you" mình chỉ thấy trong văn chương sách vở hay trên cánh thiệp, chứ ai đời bên ngoài ngồi nói chuyện với nhau mà nói "Anh yêu em" thì nghe sao được? Nó ngượng miệng lắm! Nói vậy thấy nó lãng và vô duyên chi lạ, cho nên ba (hoặc ông) phải viết thế cho nó nghe trơn tru và chủ yếu là nhét được cái NỘI HÀM "I love you" ấy vào trong câu mà không thấy sượng. Haha…
Ngày nay bọn trẻ nó quen nhau thì thể hiện bằng tin nhắn, bằng email, bằng chát chít (messenger, zalo), cho nên lắm khi chúng quên đi những ngôn từ bay bổng và thi vị trong tình yêu thể hiện trên những lá thư tình viết tay, mà những thứ chat chit đó có cất trong hộp được đâu? Có trương ra để nhắc nhở chồng được đâu? Cho nên thật tình tôi thấy tiếc, đó là chưa kể đến ngày nay lạm dụng máy tính nhiều quá khiến nét chữ chúng ta xấu đi lúc nào chẳng biết, cần gì thì cứ việc bấm bấm hoặc gõ lóc cóc trên bàn phím thôi, kể cả văn bản công việc, blóc bliếc và chát chít, tất cả đều là máy tính, những lúc cần phải viết trên giấy thì lúc nào cũng viết láu, viết tháo viết tắt cho nhanh, chứ làm sao giữ được nét chữ chân thực của mình như trong những bức thư tình lúc chúng tôi còn trai trẻ. Mà chính tôi bây giờ cũng bị hiện đại hóa thành ra nét chữ mình xấu và chậm đi, chứ ngày xưa học phổ thông và đại học, chữ của tui chuẩn và đẹp lắm đó nghen (bay bướm nữa, hehe…)
Thế cho nên xem ra thì việc viết thư tình quả là có rất nhiều điều lợi đấy chứ! Cho chữ nghĩa của ta bay bổng với ái tình nè, cho nét chữ ta thêm điêu luyện nè, cho nụ cười trên môi người yêu ta luôn tươi mở khi đọc những dòng chữ thân yêu của ta nè, có khi những dòng chữ ấy lại được ấp vào ngực thổn thức nữa đó chứ. Ấy là chưa kể vài chục năm sau, con cháu ta có cái để mà trêu, những sự trêu chọc rất đáng yêu, để những hương yêu ngày xưa thời trai trẻ của chúng ta đã gởi gắm vào những tờ giấy mỏng manh kia nay vẫn còn tươi mới, như tình yêu có trong mỗi người chúng ta vậy. Nhưng hãy nhớ là những gì ta viết thì còn đó nhé, không thể như nước chảy qua cầu đâu, thế thì sự thành thật trong tình yêu đã được nâng lên một bậc rồi. Mà ở thời buổi này thì sự thành thật đâu phải dễ kiếm, cho nên cái hương yêu ấy nó có vô vàn giá trị là vậy, việc gì ta lại không tiếp tục dùng nhỉ?

Thu Tinh

Advertisements

Read Full Post »


Nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh được nhiều người ngưỡng mộ với hai bài thơ “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” và “Đừng Bỏ Em Một Mình.” Đặc biệt, hai bài thơ này nổi tiếng hơn khi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Ông đã đưa hai bài thơ lên một tầm cao mới, nhờ giai điệu trầm bổng, khát khao…

Tôi chỉ viết về bài “Đừng bỏ em một mình”. Đừng bỏ em một mình là lời của một cô gái chết khi còn rất trẻ. Bài hát như tâm tình oán than của cô gái khi nằm trong quan tài, từ những tiếng động lạnh người khi đóng nắp, đốt nhang, hạ huyệt… Ý niệm mãnh liệt nhất của cô xuyên suốt ca khúc chính là "Đừng bỏ em một mình" – cô không muốn những người còn sống bỏ cô lại trong nỗi cô đơn, không muốn mình bị chìm vào quên lãng trong ký ức của mọi người… Những khoảng trống dựng lên rợn ngợp. Em “một mình” rồi em lại đi về giữa “mông mênh, lênh đênh”. Lời ca nào phải về thiếu nữ bị người yêu rời bỏ, mà mãi đến giữa bài ta mới hay đó lại về một kẻ nữ chết đi nhưng hãy còn lưu luyến người thương, lưu luyến hơi ấm của anh cùng tình yêu anh dành cho ngày trước.

“Đừng bỏ em một mình

Đừng bỏ em một mình

Đường về nghĩa trang mông mênh

Đừng bỏ em

Đừng bỏ em một mình

Đừng bỏ em một mình

Đường về nghĩa trang lênh đênh

Đừng bỏ em

Đừng bỏ em một mình

Đừng bỏ em một mình

Cùng một lũ côn trùng

Rỉa rúc thân mình.”

Thân xác trước kia là vỏ bọc, là hơi ấm vốn ôm lấy linh hồn này khỏi sự lạnh lẽo, quạnh quẽ rợn ngợp của mùi tử khí nghĩa trang, vốn tách bạch linh hồn khỏi sự vô cùng đời đời kiếp kiếp và khỏi nỗi cô đơn trùng điệp cùng thời gian. Nhưng rồi thể xác trong mộ cũng sẽ chẳng còn, cô rồi sẽ lạc mãi trong không thời, quên lãng. Thứ “trần gian” còn lại nơi cô – hương liệu mà ca khúc tỏa ra khiến người đọc run hãi vì nào hay cõi âm lại quen thuộc và gần mình đến lạ- là tình yêu đôi lứa đi liền cùng ký ức, cùng nỗi niềm đơn độc.

“Lời nào đó lời nào đó

tiếng ân tình hay tiếng cầu kinh

nhạc nào đó nhạc nào đó

nhạc gọi người hay nhạc gọi hồn”

Linh hồn cô gái, em ở đâu, ranh giới thực-ảo nào cho em, em nhìn vào đâu: quá khứ hay hiện tại? Tiếng ân tình khi xưa nay hòa vào cùng những lời cầu kinh cho em – người quá cố. Nhạc kia réo rắt cũng đều dành cho em cả nhưng là nhạc cho người còn sống hay cho em, nay chỉ là ma nữ vấn vương? Nhạc ngày xưa em cùng anh thưởng, hay thứ nhạc dập dìu, chán nản, thiếu vắng sức sống từ đám ma? Em giờ là ai? Em giờ ở đâu? Anh ở đâu?

“Đừng bỏ em một mình

đừng bỏ em một mình

trời lạnh quá trời lạnh quá

sao đành bỏ em một mình

Đừng bỏ em một mình

đừng bỏ em một mình

chiều lộng gió chiều lộng gió

sao anh đành bỏ em”

Trời lạnh, gió lộng khiến thiên nhiên mang màu sắc u uất, khí trời cô đặc lại. Trời lạnh, gió lộng nhưng nào có bằng khắc khoải, đớn đau của cô gái khi bị bỏ lại riêng mình, bị rời xa nhưng không cách nào cứu hồi lại được chỉ vì cách trở sống – chết không phải thứ để vui đùa. Bài hát với những câu ca lặp đi lặp lại “đừng bỏ em một mình, đừng bỏ em một mình”, “sao anh đành bỏ em” đã đưa người nghe đứng giữa đất trời lạnh lẽo, gió thổi lồng lộng, chẳng khác nào đặt họ vào cùng nơi cô gái đang cất lời ai oán. Họ sẽ cảm thấy bị nỗi niềm cô gái bủa vây, đặc quạnh quanh mình khi lời cô như được gửi chung cùng với gió, cứ lặp mãi, vang vọng mãi, thốc mãi vào họ những luồng khí lạnh. Trong phút chốc, họ bước vào cõi vô chừng, rơi vào hun hút của không gian thời gian vốn chẳng dành cho người trần gian. Thế nên lắm người nghe bài hát thấy rùng rợn tâm can. Hoặc trong cuộc đời hữu hạn, trong sự hữu hạn của khả năng biểu lộ tâm tình, kẻ hãy còn sống khi nghe nhạc trở nên ám ảnh, hoang mang bởi chưa bao giờ họ đạt tới đáy thẳm. Con người, cùng sự sống của nó, cùng toàn bộ những gì nó có, nó là, quả lưng chừng, chênh vênh. Sống ở mãi khoảng giữa, nó chẳng hay một bước xuống thẳm sâu, một bước lên đỉnh cao chót vót cũng đưa đến một nhận thức, một cảm nhận mới về chính mình, một bản năng nghi hoặc những gì đang hiện hữu. Những cùng cực đỉnh điểm khiến con người đổi mới nhưng mấy ai dám dấn vào.

“Đừng lặng thinh đừng lặng thinh

với tiếng chày tiếng búa nện đinh

đừng tỏa hương đừng tỏa hương

khói hương vàng che khuất người thương”

Cô chẳng cần cứu chuộc, siêu thoát. Tiếng chày, tiếng búa, khói hương chẳng qua cũng chỉ là phù phiếm, chỉ là ước mong của người trần mắt thịt. Cô không ôm lấy mộng an nhiên, càng không cần lấy nỗi niềm kẻ khác. Cô chỉ cần nghe tiếng anh, chỉ cần nhìn thấy anh. Cô đơn, bất lực, đau thương càng dập dìu, lần lữa. Cô bảo anh nói đi mà anh nào cất tiếng, anh không còn nghe thấy lời cô. Cô không sở hữu được người thương nên cô bảo nhang khói vô tri vô giác đừng cháy nữa. Không cần lấy sự cầu khấn người đời nhưng cô gái vẫn mong mình được giải thoát:

“Đừng bỏ em một mình

đừng bỏ em một mình

một mồ trinh chênh vênh

chờ cỏ xanh

Đừng bỏ em một mình

đừng bỏ em một mình

vài ngàn đời sau nữa

vài ngàn đời sau nữa

vài ngàn đời sau nữa

ai mái tóc còn xanh.”

Chết khi còn mang cái nết trong sạch nên tự ví mình là mồ trinh. Lạc, “chênh vênh” giữa đôi bờ của đất trời vạn vật, của tình yêu vô vọng kiếp này, cô chẳng khát gì hơn ngoài “cỏ xanh” – đợi chờ để được siêu thoát, để được yêu thêm lần nữa. Nhưng đợi đến bao giờ, hay sẽ sợ người thương rời bỏ đến “vài ngàn đời” cùng tâm tư bỏ ngỏ “ai mái tóc còn xanh”? Cũng có thể đó là ước muốn của cô về một tình yêu sống mãi cùng thời gian. Thứ tình diết da, đằng đẵng nhưng cũng là đọa đày, quên không được thì cứ mang qua cùng đời người, kiếp số.

Cái hay toàn vẹn của bài ca chỉ đến khi người nghệ sĩ ngân nga hai đoạn cuối này. Trước đó chỉ là hoang mang của cô gái về bản thân hiện tại, về nơi chốn mình bị rơi vào. Trước đó chỉ là những níu kéo, cưỡng cầu, xót xa cùng cực đến độ thấm đẫm cả khí trời bằng nỗi u hoài tình yêu. Nhưng đau thương mãi rồi sẽ có ngày hóa thành thù hận, ở trong bóng tối mãi sẽ chẳng biết có ánh sáng ở đời. Thế nên khoảnh khắc linh hồn biết mong sự giải thoát cũng là lúc hi vọng được thắp lên dẫu rằng nỗi sợ bị lãng quên vẫn níu chặt.

Nếu không biết bài thơ gốc, mà chỉ nghe ca khúc này thôi thì đây quả là một bài hát tuyệt vời. Qua những chữ được nhạc sĩ lặp lại, nỗi đau như được dàn trải: “Đừng bỏ em một mình/ đừng bỏ em một mình/ trời lạnh quá trời lạnh quá/ sao đành bỏ em một mình.” Hay: “Chiều lộng gió chiều lộng gió/ sao anh đành bỏ em.”

Còn ở đoạn cao trào này, có những nốt cao như sự giằng xé nội tâm, nhưng vẫn là một nỗi đau chơi vơi, lăng đăng của một linh hồn đứng trên cao nhìn thân xác mình sắp tàn rữa: “Lời nào đó lời nào đó/ tiếng ân tình hay tiếng cầu kinh/ nhạc nào đó nhạc nào đó/ nhạc gọi người hay nhạc gọi hồn.”

Ở bài thơ gốc, trong bốn câu thơ đầu, nỗi đau dù nhẹ, nhưng đã thấm chuyện “tử-biệt, sinh-ly:” “Đừng bỏ em một mình/ Khi trăng về lạnh lẽo/ Khi chuông chùa u minh/ Chậm rãi tiếng cầu kinh.”

Bốn câu tiếp, nỗi đau bắt đầu mạnh dần: “Đừng bỏ em một mình/ Khi mưa chiều rào rạt/ Lũ chim buồn xơ xác/ Tìm nhau gục vào mình” và tăng cường độ: “Đừng bỏ em một mình/ Trời đất đang làm kinh/ Rừng xa quằn quại gió/ Thu buốt vết hồ tinh.”

Câu “Trời đất đang làm kinh” làm cho nỗi đau trở nên ai oán hơn, khiến đất trời cũng phải “trở mình nhỏ máu.” Cho đến những đoạn cuối: “Đừng bỏ em một mình/ Cho côn trùng rúc rỉa/ Cỏ dại phủ mộ trinh/ Cho bão tố bấp bênh.”

Nỗi đau trở nên kinh hoàng của người nằm dưới mộ sâu. Nó đặc quánh trong đầu óc, trong thân thể, tạo tiếng gào thét không thanh âm, tê buốt da thịt.

Sau đây là nguyên văn bài thơ:

Đừng Bỏ Em Một Mình

Tác giả: Minh Đức Hoài Trinh

Đừng bỏ em một mình
Khi trăng về lạnh lẽo
Khi chuông chùa u minh
Chậm rãi tiếng cầu kinh

Đừng bỏ em một mình
Khi mưa chiều rào rạt
Lũ chim buồn xơ xác
Tìm nhau gục vào mình

Đừng bỏ em một mình
Trời đất đang làm kinh
Rừng xa quằn quại gió
Thu buốt vết hồ tinh

Đừng bỏ em một mình
Đừng bắt em làm thinh
Cho em gào nức nở
Hòa đại dương mông mênh

Đừng bỏ em một mình
Biển đêm vời vợi quá
Bước chân đời nghiêng ngả
Vũ trụ vàng thênh thênh

Đừng bỏ em một mình
Môi vệ thần không linh
Tiếng thời gian rền rĩ
Đường nghĩa trang gập ghềnh

Đừng bỏ em một mình
Bắt em nghe tiếng búa
Tiếng búa nện vào đinh
Hòa trong tiếng u minh

Đừng bỏ em một mình
Bóng thuyền ma lênh đênh
Vòng hoa tang héo úa
Yêu quái vẫn vô tình

Đừng bỏ em một mình
Cho côn trùng rúc rỉa
Cỏ dại phủ mộ trinh
Cho bão tố bấp bênh

Đừng bỏ em một mình
Mấy ngàn năm sau nữa
Ai mái tóc còn xinh
Đừng bỏ em một mình

Read Full Post »


Lan Man Chuyện “Tám”
Mình thứ tám trong gia đình, lớn lên đi làm nhờ có chút địa vị nên ít người gọi tên mà thường gọi thứ như: Chú Tám, Anh Tám. Có điều mình bức xúc là thứ Tám hay được dùng trong một số tiếng lóng chỉ những sự “không hay” như “bà Tám” chỉ người nhiều chuyện, “bỏ đi Tám” là người nói cố ra vẻ ta đây …. Tôi tìm hiểu hoài nhưng ít có giải thích thỏa đáng nên tự nghĩ ra cách giải thích của mình cho bạn bè nghe chơi. Ai có cùng thứ Tám như mình thì có ý kiến thêm.
1. TÁM LÀ NHIỀU CHUYỆN
Tám là nhiều chuyện, là nói nhiều. Chắc chắn đây là tiếng lóng miền Nam, còn ngoài Bắc thì người ta thường nói là buôn dưa lê (dù nghĩa có hơi khác chút xíu).
Tại sao người ta nhiều chuyện lại là 8, mà hổng phải 6, 7, 9…? Có người giải thích là do hồi xưa trên radio có chương trình bà Tám kể chuyện cho con nít nghe. Có người nói do hồi xưa có tổng đài 108 (và 1088) chuyên trả lời thắc mắc đủ thứ trên đời.
Tôi hổng tin lắm, vì kể chuyện đời xưa như bà Tám hay giải đáp thắc mắc qua 1088 đâu có đúng kiểu 888 như bây giờ!
Hay là tại mấy bà thứ Tám nói nhiều hơn mấy bà thứ Sáu, Bảy?. Hổng chắc, vì đã là phụ nữ đâu có… bà nào “tám” thua bà nào!
Cái cảm giác cá nhân của tôi là âm Tám nghe có vẻ… bép xép, lắm điều hơn mấy con số khác (thử đọc Chín coi, đọc một cái là nghe… nín liền!)
Tuy nhiên, theo An Chi thì “Tám” (nhiều chuyện) có xuất xứ như sau:
“Bà Tám” là một hình thức sao phỏng (loan translation), có lẽ bắt đầu ở tiếng Việt miền Nam. Mà ở miền Nam thì bắt nguồn từ tiếng Quảng Đông là “pát phò”
[八婆], đọc theo âm Hán Việt là “bát bà”, dịch đúng nghĩa gốc là “bà tám”. Đây là một đặc ngữ của tiếng Quảng Đông ở Hồng Kông, dùng để chỉ người phụ nữ hay để ý hoặc bàn tán đến chuyện của người khác; hiểu rộng ra, là người đàn bà nhiều chuyện. Ở những địa phương khác của Trung Quốc gọi hạng đàn bà này là “trường thiệt phụ” [長舌婦], nghĩa đen là “con mẹ lưỡi dài”.
Trực tiếp đóng góp vào sự ra đời của danh ngữ “Bà Tám” này trong tiếng Việt là dân làm ăn liên quan đến làng điện ảnh và truyền hình. Sau khi phim Tàu, đặc biệt là phim Hồng Kông nói tiếng Quảng Đông, được một vài đài truyền hình phát sóng thì phát sinh yêu cầu phải thuyết minh hoặc lồng tiếng. Để làm vậy, trước hết phải dịch. Khốn khổ thay, người dịch có lẽ cũng chạy theo nhịp điệu hối hả của thị trường chứ nào thực sự yêu mến tiếng Việt, thực sự thấu hiểu từ nguyên. Chưa kể trong đó có thể có cả những tay người Việt gốc Hoa thì làm sao tránh khỏi chuyện “pát phò” trở thành “bà tám”! Trong khi đó, tiếng Việt đâu có thiếu từ, ngữ tương ứng với khái niệm “con mẹ Tám” của người Quảng Đông!
“Bà Tám” dần dần đưa đến từ “Tám” phát sinh bằng cách ngắt bỏ từ “Bà” đằng trước, nhiều phần cũng là do nhu cầu động từ hóa. Thế là có động từ “Tám” và danh ngữ “Bà Tám” – mẹ đẻ của nó – tồn tại song song trong khẩu ngữ. “Bà Tám” dùng để chỉ những người nhiều chuyện, còn “Tám” thì dùng để chỉ hành động nhiều chuyện của những người này.
2. BỎ ĐI TÁM
Bỏ đi Tám cũng là tiếng lóng miền Nam, nhưng khác với Tám với ý nghĩa nhiều chuyện là nó ra đời rất lâu trước 1975 (và bây giờ ít dùng).
Bỏ đi Tám có nghĩa là: Thôi, bỏ đi; bỏ qua đi… với tư cách là một người ở bậc cao nói với người ở bậc thấp hơn (ở đây là mặc định là Tám). Thời trước 1975, từ Bỏ đi Tám dùng khá phổ biến để đến Nhạc sĩ Phạm Duy có nhạc phẩm: Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ qua đi tám. Thế đấy!
Lại tiếp tục câu hỏi: tại sao không là bỏ đi Hai, Ba, Bảy, Chín… mà lại là bỏ đi Tám?
Cũng như trong gia đình, người Sài Gòn xưa đã thẳng thắn phân chia thứ bậc của các tầng lớp xã hội một cách rạch ròi cho dễ dàng ứng xử và giao thiệp hàng ngày ngay từ thời Sài Gòn còn phôi thai mở mang dọc kinh Bến Nghé.
Vị trí thứ NHẤT: Quyền lực cao nhất ở Saigon thời xưa là những quan Tây cầm đầu guồng máy nên không thứ hạng gì cả và không kể là anh em trong nhà.
Vị trí thứ HAI: Đó là các thầy Thông, thầy Phán, thầy Ký là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các "THẦY HAI THÔNG NGÔN", hay "THẦY HAI THƠ KÝ"…
Vị trí thứ BA thuộc về các chú người Trung Hoa, họ gần như nắm trọn guồng máy kinh tế của Sài Gòn. Đó là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống "bang hội" tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các "chú Ba Tàu" nghiễm nhiên là 1 thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó. Họ là chủ các vựa hoặc các doanh nghiệp dọc con kinh Bến Nghé. Gọi CÁC CHÚ BA TÀU là vậy.
Thứ TƯ thuộc về những tay anh chị hùng cứ mỗi người một khu vực và sẵn sàng dùng dao búa để bảo vệ lãnh thổ của mình hay chiếm đoạt lãnh thổ của các tay anh chị yếu hơn. Đó là các "đại ca" giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và "vô thiên vô pháp" nhưng khá "tôn ti trật tự (riêng)" và "có đạo nghĩa" chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm "trẻ trâu" hiện đại. Các "ANH TƯ DAO BÚA" vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.
Phá rối bạn hàng, giựt dọc, chôm chỉa, mánh mung, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm… là những tài mọn của mấy ANH NĂM ĐÁ CÁ LĂN DƯA (đi ngang đá cá văng khỏi sạp cho đứa khác chụp hay lăn cho dưa đổ để đứa khác ôm chạy).
Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các "thầy Sáu phú-lít (police)", "THẦY SÁU MÃ TÀ", "THẦY SÁU LÈO". Thời xưa, Sài Gòn cũng có dân buôn bán vỉa hè và thường bị đuổi bắt. Khi thấy mấy anh quần trắng áo trắng (cảnh sát) với cái dùi cui trắng ló đầu là bạn hàng rối rít: "Anh Sáu tới tụi bây ơi" rồi mạnh ai nấy thu vén hàng gánh chạy thục mạng. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các "thầy Sáu" này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn "hối lộ" của họ để "nhẩm xà" (uống trà). SÁU MÃ TÀ hay SÁU LÈO chính là mấy anh Sáu bạn dân này.
ANH BẢY CHÀ (VÀ) là tên người Sài Gòn đặt cho mấy người Ấn Độ vì họ tuy hiền hòa hơn nhưng cũng có quyền sinh sát trong tay. Họ vừa giàu vừa ít bị "ghét", vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm. Những người Ấn giàu có thì mở tiệm cầm đồ hay cho vay nặng lãi.
Nhân đây nói thêm về Chà Và: Dân mình kêu Chà Và là ám chỉ người Java (Indonesia). Việc xuất khẩu lao động của người Java sang Việt Nam có từ thời rất xa xưa, trước thế kỷ mười tám mười chín. Người Java – tức Chà Và – (thuộc Indonesia) làm gác dan, cho vay tiền, làm thư ký hay kế toán công sở thời Pháp thuộc… Với nhiều người, khi dùng từ Chà Và là để chỉ bao gồm các tộc người vùng biển đảo phía nam Ấn Độ… riết rồi dùng chữ Chà Và để đặt tên hết mấy người Nam Á, miễn là đen thui, tóc quăn, mũi cao, to cao hơn người Việt. Kể cả người Chăm vùng Tân Châu, Châu Đốc có vóc dáng giống như vậy cũng được gọi là Chà Và… Nhắc Chà Và… làm tôi nhớ đên bài hát mà đám con nít chúng ta hồi đó hay ê a: “Chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà, chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà… Chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà, chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà…”. Tuy da đen nhưng răng người Java thì trắng nhỡn và đều đặn. Trước năm 1975 hãng kem đánh răng Hynos có lấy hình tượng “Anh Bảy Chà” là bức hình của một người đàn ông Chà Và cười nhe hai hàm răng trắng bóng nhỡn để treo bảng quảng cáo tận hàng cùng ngõ hẽm. Còn trên radio chương trình thương mãi thường ca quảng cáo: Em yêu anh, em yêu anh, anh Bảy Chà da đen!
Bây giờ mới đến anh Tám. Đó là những tá điền vì ruộng vườn thất bát từ tứ xứ đổ xô về Sài Gòn, là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lục làm vốn nuôi miệng. Họ làm cu li khuân vác, gánh nước bồng em, hay khá hơn chút thì thuê được một chiếc xe kéo để kéo đưa các thầy Hai, chú Ba đi làm đi ăn. Họ là những chị Tám đi ở đợ đêm đêm tụ họp ở những phông tên công cộng chờ chực gánh về từng đôi nuớc cho chủ. Họ chỉ mong đánh đổi sức lao động của mình kiếm được miếng cơm cho mình và cho gia đình mòn mỏi chờ trông.
Tận cùng xã hội là những người chỉ có thể đánh đổi cái vốn sẵn có của mình để mong thoát khỏi cái số con rệp từ khi mới sinh ra. Họ là những chị CHÍN BÌNH KHANG.
Như vậy chữ Tám trong bỏ đi Tám chính là chỉ những người thuộc tầng lớp bình dân, thấp cổ bé miệng này.
Lan man một chút chắc có gì là đúng. Mong bạn bè góp thêm. Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, "bỏ qua đi Tám"!

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Read Full Post »

Older Posts »

%d bloggers like this: