Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Tạp ghi văn nghệ’ Category


Nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh được nhiều người ngưỡng mộ với hai bài thơ “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” và “Đừng Bỏ Em Một Mình.” Đặc biệt, hai bài thơ này nổi tiếng hơn khi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Ông đã đưa hai bài thơ lên một tầm cao mới, nhờ giai điệu trầm bổng, khát khao…

Tôi chỉ viết về bài “Đừng bỏ em một mình”. Đừng bỏ em một mình là lời của một cô gái chết khi còn rất trẻ. Bài hát như tâm tình oán than của cô gái khi nằm trong quan tài, từ những tiếng động lạnh người khi đóng nắp, đốt nhang, hạ huyệt… Ý niệm mãnh liệt nhất của cô xuyên suốt ca khúc chính là "Đừng bỏ em một mình" – cô không muốn những người còn sống bỏ cô lại trong nỗi cô đơn, không muốn mình bị chìm vào quên lãng trong ký ức của mọi người… Những khoảng trống dựng lên rợn ngợp. Em “một mình” rồi em lại đi về giữa “mông mênh, lênh đênh”. Lời ca nào phải về thiếu nữ bị người yêu rời bỏ, mà mãi đến giữa bài ta mới hay đó lại về một kẻ nữ chết đi nhưng hãy còn lưu luyến người thương, lưu luyến hơi ấm của anh cùng tình yêu anh dành cho ngày trước.

“Đừng bỏ em một mình

Đừng bỏ em một mình

Đường về nghĩa trang mông mênh

Đừng bỏ em

Đừng bỏ em một mình

Đừng bỏ em một mình

Đường về nghĩa trang lênh đênh

Đừng bỏ em

Đừng bỏ em một mình

Đừng bỏ em một mình

Cùng một lũ côn trùng

Rỉa rúc thân mình.”

Thân xác trước kia là vỏ bọc, là hơi ấm vốn ôm lấy linh hồn này khỏi sự lạnh lẽo, quạnh quẽ rợn ngợp của mùi tử khí nghĩa trang, vốn tách bạch linh hồn khỏi sự vô cùng đời đời kiếp kiếp và khỏi nỗi cô đơn trùng điệp cùng thời gian. Nhưng rồi thể xác trong mộ cũng sẽ chẳng còn, cô rồi sẽ lạc mãi trong không thời, quên lãng. Thứ “trần gian” còn lại nơi cô – hương liệu mà ca khúc tỏa ra khiến người đọc run hãi vì nào hay cõi âm lại quen thuộc và gần mình đến lạ- là tình yêu đôi lứa đi liền cùng ký ức, cùng nỗi niềm đơn độc.

“Lời nào đó lời nào đó

tiếng ân tình hay tiếng cầu kinh

nhạc nào đó nhạc nào đó

nhạc gọi người hay nhạc gọi hồn”

Linh hồn cô gái, em ở đâu, ranh giới thực-ảo nào cho em, em nhìn vào đâu: quá khứ hay hiện tại? Tiếng ân tình khi xưa nay hòa vào cùng những lời cầu kinh cho em – người quá cố. Nhạc kia réo rắt cũng đều dành cho em cả nhưng là nhạc cho người còn sống hay cho em, nay chỉ là ma nữ vấn vương? Nhạc ngày xưa em cùng anh thưởng, hay thứ nhạc dập dìu, chán nản, thiếu vắng sức sống từ đám ma? Em giờ là ai? Em giờ ở đâu? Anh ở đâu?

“Đừng bỏ em một mình

đừng bỏ em một mình

trời lạnh quá trời lạnh quá

sao đành bỏ em một mình

Đừng bỏ em một mình

đừng bỏ em một mình

chiều lộng gió chiều lộng gió

sao anh đành bỏ em”

Trời lạnh, gió lộng khiến thiên nhiên mang màu sắc u uất, khí trời cô đặc lại. Trời lạnh, gió lộng nhưng nào có bằng khắc khoải, đớn đau của cô gái khi bị bỏ lại riêng mình, bị rời xa nhưng không cách nào cứu hồi lại được chỉ vì cách trở sống – chết không phải thứ để vui đùa. Bài hát với những câu ca lặp đi lặp lại “đừng bỏ em một mình, đừng bỏ em một mình”, “sao anh đành bỏ em” đã đưa người nghe đứng giữa đất trời lạnh lẽo, gió thổi lồng lộng, chẳng khác nào đặt họ vào cùng nơi cô gái đang cất lời ai oán. Họ sẽ cảm thấy bị nỗi niềm cô gái bủa vây, đặc quạnh quanh mình khi lời cô như được gửi chung cùng với gió, cứ lặp mãi, vang vọng mãi, thốc mãi vào họ những luồng khí lạnh. Trong phút chốc, họ bước vào cõi vô chừng, rơi vào hun hút của không gian thời gian vốn chẳng dành cho người trần gian. Thế nên lắm người nghe bài hát thấy rùng rợn tâm can. Hoặc trong cuộc đời hữu hạn, trong sự hữu hạn của khả năng biểu lộ tâm tình, kẻ hãy còn sống khi nghe nhạc trở nên ám ảnh, hoang mang bởi chưa bao giờ họ đạt tới đáy thẳm. Con người, cùng sự sống của nó, cùng toàn bộ những gì nó có, nó là, quả lưng chừng, chênh vênh. Sống ở mãi khoảng giữa, nó chẳng hay một bước xuống thẳm sâu, một bước lên đỉnh cao chót vót cũng đưa đến một nhận thức, một cảm nhận mới về chính mình, một bản năng nghi hoặc những gì đang hiện hữu. Những cùng cực đỉnh điểm khiến con người đổi mới nhưng mấy ai dám dấn vào.

“Đừng lặng thinh đừng lặng thinh

với tiếng chày tiếng búa nện đinh

đừng tỏa hương đừng tỏa hương

khói hương vàng che khuất người thương”

Cô chẳng cần cứu chuộc, siêu thoát. Tiếng chày, tiếng búa, khói hương chẳng qua cũng chỉ là phù phiếm, chỉ là ước mong của người trần mắt thịt. Cô không ôm lấy mộng an nhiên, càng không cần lấy nỗi niềm kẻ khác. Cô chỉ cần nghe tiếng anh, chỉ cần nhìn thấy anh. Cô đơn, bất lực, đau thương càng dập dìu, lần lữa. Cô bảo anh nói đi mà anh nào cất tiếng, anh không còn nghe thấy lời cô. Cô không sở hữu được người thương nên cô bảo nhang khói vô tri vô giác đừng cháy nữa. Không cần lấy sự cầu khấn người đời nhưng cô gái vẫn mong mình được giải thoát:

“Đừng bỏ em một mình

đừng bỏ em một mình

một mồ trinh chênh vênh

chờ cỏ xanh

Đừng bỏ em một mình

đừng bỏ em một mình

vài ngàn đời sau nữa

vài ngàn đời sau nữa

vài ngàn đời sau nữa

ai mái tóc còn xanh.”

Chết khi còn mang cái nết trong sạch nên tự ví mình là mồ trinh. Lạc, “chênh vênh” giữa đôi bờ của đất trời vạn vật, của tình yêu vô vọng kiếp này, cô chẳng khát gì hơn ngoài “cỏ xanh” – đợi chờ để được siêu thoát, để được yêu thêm lần nữa. Nhưng đợi đến bao giờ, hay sẽ sợ người thương rời bỏ đến “vài ngàn đời” cùng tâm tư bỏ ngỏ “ai mái tóc còn xanh”? Cũng có thể đó là ước muốn của cô về một tình yêu sống mãi cùng thời gian. Thứ tình diết da, đằng đẵng nhưng cũng là đọa đày, quên không được thì cứ mang qua cùng đời người, kiếp số.

Cái hay toàn vẹn của bài ca chỉ đến khi người nghệ sĩ ngân nga hai đoạn cuối này. Trước đó chỉ là hoang mang của cô gái về bản thân hiện tại, về nơi chốn mình bị rơi vào. Trước đó chỉ là những níu kéo, cưỡng cầu, xót xa cùng cực đến độ thấm đẫm cả khí trời bằng nỗi u hoài tình yêu. Nhưng đau thương mãi rồi sẽ có ngày hóa thành thù hận, ở trong bóng tối mãi sẽ chẳng biết có ánh sáng ở đời. Thế nên khoảnh khắc linh hồn biết mong sự giải thoát cũng là lúc hi vọng được thắp lên dẫu rằng nỗi sợ bị lãng quên vẫn níu chặt.

Nếu không biết bài thơ gốc, mà chỉ nghe ca khúc này thôi thì đây quả là một bài hát tuyệt vời. Qua những chữ được nhạc sĩ lặp lại, nỗi đau như được dàn trải: “Đừng bỏ em một mình/ đừng bỏ em một mình/ trời lạnh quá trời lạnh quá/ sao đành bỏ em một mình.” Hay: “Chiều lộng gió chiều lộng gió/ sao anh đành bỏ em.”

Còn ở đoạn cao trào này, có những nốt cao như sự giằng xé nội tâm, nhưng vẫn là một nỗi đau chơi vơi, lăng đăng của một linh hồn đứng trên cao nhìn thân xác mình sắp tàn rữa: “Lời nào đó lời nào đó/ tiếng ân tình hay tiếng cầu kinh/ nhạc nào đó nhạc nào đó/ nhạc gọi người hay nhạc gọi hồn.”

Ở bài thơ gốc, trong bốn câu thơ đầu, nỗi đau dù nhẹ, nhưng đã thấm chuyện “tử-biệt, sinh-ly:” “Đừng bỏ em một mình/ Khi trăng về lạnh lẽo/ Khi chuông chùa u minh/ Chậm rãi tiếng cầu kinh.”

Bốn câu tiếp, nỗi đau bắt đầu mạnh dần: “Đừng bỏ em một mình/ Khi mưa chiều rào rạt/ Lũ chim buồn xơ xác/ Tìm nhau gục vào mình” và tăng cường độ: “Đừng bỏ em một mình/ Trời đất đang làm kinh/ Rừng xa quằn quại gió/ Thu buốt vết hồ tinh.”

Câu “Trời đất đang làm kinh” làm cho nỗi đau trở nên ai oán hơn, khiến đất trời cũng phải “trở mình nhỏ máu.” Cho đến những đoạn cuối: “Đừng bỏ em một mình/ Cho côn trùng rúc rỉa/ Cỏ dại phủ mộ trinh/ Cho bão tố bấp bênh.”

Nỗi đau trở nên kinh hoàng của người nằm dưới mộ sâu. Nó đặc quánh trong đầu óc, trong thân thể, tạo tiếng gào thét không thanh âm, tê buốt da thịt.

Sau đây là nguyên văn bài thơ:

Đừng Bỏ Em Một Mình

Tác giả: Minh Đức Hoài Trinh

Đừng bỏ em một mình
Khi trăng về lạnh lẽo
Khi chuông chùa u minh
Chậm rãi tiếng cầu kinh

Đừng bỏ em một mình
Khi mưa chiều rào rạt
Lũ chim buồn xơ xác
Tìm nhau gục vào mình

Đừng bỏ em một mình
Trời đất đang làm kinh
Rừng xa quằn quại gió
Thu buốt vết hồ tinh

Đừng bỏ em một mình
Đừng bắt em làm thinh
Cho em gào nức nở
Hòa đại dương mông mênh

Đừng bỏ em một mình
Biển đêm vời vợi quá
Bước chân đời nghiêng ngả
Vũ trụ vàng thênh thênh

Đừng bỏ em một mình
Môi vệ thần không linh
Tiếng thời gian rền rĩ
Đường nghĩa trang gập ghềnh

Đừng bỏ em một mình
Bắt em nghe tiếng búa
Tiếng búa nện vào đinh
Hòa trong tiếng u minh

Đừng bỏ em một mình
Bóng thuyền ma lênh đênh
Vòng hoa tang héo úa
Yêu quái vẫn vô tình

Đừng bỏ em một mình
Cho côn trùng rúc rỉa
Cỏ dại phủ mộ trinh
Cho bão tố bấp bênh

Đừng bỏ em một mình
Mấy ngàn năm sau nữa
Ai mái tóc còn xinh
Đừng bỏ em một mình

Advertisements

Read Full Post »


Chiếc lá thu phai – Suy tư về kiếp người

Với những ca khúc như Lời thiên thu gọi, Còn tuổi nào cho em, Diễm xưa, Chiếc lá thu phai… Trịnh Công Sơn như gởi tới mọi người những suy tư, trăn trở của Trịnh về cả một kiếp người trong cuộc sống.

“Mùa xuân quá vội

Mười năm tắm gội

Giật mình ôi chiếc lá thu phai

Người đâu mất người

đời tôi ngốc dại

Tự làm khô héo tôi đây”

Chiếc lá thu phai của Trịnh Công Sơn, là một trong những sáng tác Trịnh Công Sơn viết vào giai đoạn nửa sau của cuộc đời, khi dâu bể, thăng trầm đã đi qua để lại trải nghiệm sâu sắc về con người, tình yêu và số phận… “Thân người hữu hạn nhưng tình yêu thì vô cùng” … Đó là lời phát biểu của Trịnh Công Sơn khi được hỏi về hoàn cảnh ra đời của “Chiếc lá thu phai”.

Cuộc đời vốn vô thường và kiếp sống của con người chỉ là những ngày ngắn ngủi “ở trọ trần gian” mà thôi. Cho nên một kiếp người cũng mong manh như là một “chiếc lá thu phai”, một chiều nào đó rụng cành trong cảm giác hư hao, nhỏ bé. Cái lẽ hợp tan, còn mất, hạnh phúc hay khổ đau là tất yếu. Bởi một ngày nào đó, một buổi chiều buồn tênh thức dậy sau giấc ngủ dài/ sau giấc ngủ vừa thấy “chập chờn lau trắng trong tay” của sự ra đi nay mai…

“Chiếc lá thu phai” là một ca khúc mang đậm triết lý về thân phận con người, về cái đời sống hằng thường, nhỏ bé của con người trong cái vô thường, bất tận của đời. Ngủ quên trong bao bộn bề ngổn ngang và nỗi nhớ, ta chợt nhận ra dòng chảy cuộc đời vẫn vô tư trôi, không đợi chẳng chờ. Đã mấy mùa xuân qua, đã bao mùa thu lại, ta vẫn thế… đơn côi. Chỉ bởi lòng ta luôn cố chấp, cố giữ bóng người. Ôm lấy những hư ảo mênh mông không lối thoát, để hôm nay đôi chân bỗng mỏi mòn. Ta thèm lắm được một phút nghỉ ngơi, bởi phía trước là con đường đầy xa ngái. Ngay từ mở đầu bài hát, ta đã thấy một tâm trạng nhiều tiếc nuối, ngậm ngùi trong khoảnh khắc ngoảnh lại, đoái nhìn cuộc đời đã qua:

Về đây đứng ngồi
Đường xa quá ngại.
Để lòng theo chút nắng bên ngoài.
Mùa xuân quá vội
Mười năm tắm gội
Giật mình ôi chiếc lá thu phai.

Cảm giác trỗi nhất mà những ca từ này đem lại là cảm giác về thời gian – thời gian trôi chảy không ngừng. Mười năm trôi đi nhanh chóng với bao biến thiên, mùa xuân cũng vội vàng qua. Ngồi nhìn lại khoảng thời gian trôi đi và những gì đã mất, ta chợt giật mình thấy đời cũng mong manh như một chiếc lá thu phai, như một hạt bụi nhỏ nhoi. Thân phận và cả sự hiện hữu của mỗi cá nhân cũng thật hư ảo. Người về ngoái nhìn lại chặng đường đã đi qua với bao ngại ngùng, nhớ tiếc. Cuộc đời thật quá ngắn ngủi và tất cả rồi sẽ phôi pha, tàn tại. Sự hiện hữu của kiếp người cũng như trăm ngàn thứ khác chỉ là khoảnh khắc. Tất cả rồi sẽ lụi đi, rồi sẽ rơi tàn để thành ảo ảnh. Nghe những ca từ này, ta chợt nhớ tới những lời thơ của Vạn Hạnh Thiền sư dạy đệ tử:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn vật xuân vinh, thu hựu khô
(Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xuân tươi thu não nùng)

Không có gì là miên viễn trong cuộc đời này. Nhìn lại hành trình đã qua và hành trình sắp tới chỉ là những cuộc lãng du kéo dài. Chút nắng bên ngoài kéo ta ra khỏi cái thực tại, đưa ta về cơn mộng vê, đi lại trên đường ranh giới của thời gian thực tại và quá khứ. Và trong cơn giật mình bừng tỉnh kia, ta biết ta đã mất đi nhiều lắm, ta mới chiêm nghiệm thấy những nghĩa lý sâu xa của đời sống:

Người đâu mất người
Đời tôi ngốc dại
Tự làm khô héo tôi đây.
Chiều hôm thức dậy
Ngồi ôm tóc dài
Chập chờn lau trắng trong tay.

Thời gian thật ngắn ngủi và đời người cũng chẳng dài thay. Mọi thứ qua đời ta như bao phủ một lớp sương dày, lãng đãng khiến bao ngày mê man. 10 năm hay 10 mùa xuân như thế đã tàn, ta chỉ sống với những nhu cầu tồn tại, để rồi thảng thốt “giật mình ôi chiếc lá thu phai”… “Chiếc lá thu phai” đã mang theo bao mùa xuân sắc, chỉ còn chút hơi tàn, gầy guộc đến mong manh. Người cũng đi tìm đến bến yên lành, chỉ có tôi “ngốc dại” nên đành bơ vơ, biến mình thành “khô héo” như cánh vạc buồn rong ruổi miên man một cõi. Tóc đã phai bao mùa chẳng nhớ người ơi…

Trong vòng xoáy vô cùng tận của số phận, trong cái lẽ vô thường của cuộc đời, trong cái sự chảy trôi nghiệt ngã của thời gian thì không có gì vĩnh viễn. Tình yêu đi, người tình xa, hạnh phút mất. Và cả một phần con người ta cũng bị bào mòn, phai nhạt theo thời gian. Những tiếc nuối và những nỗi đau, những tổn thương và mất mát, những đắng cay và hạnh phúc đã đưa ta đến cuộc đời này, cho ta nếm trải. Để rồi ta mất tất cả, để rồi tất cả tan biến. Ta quá hữu hạn và bé nhỏ, ta quá ngốc dại để chạy theo những ảo tưởng mông lung, để đi tìm những gì xa xôi, lý tưởng. Ta cứ đi loanh quanh cho đời mỏi mệt.

Và ta đánh mất người, đánh mất ta, ta xa anh, xa em, xa ta trong khoảnh khắc. Ta ngốc dại và tự làm khô héo ta. Ta chỉ là một cây sậy mong manh với trí nghĩ nhỏ nhoi làm sao nhận ra lẽ vô thường của đời, làm sao biết sống trong từng sát na của đời sống thường nhật. Ta đánh mất tình và đánh mất ta để rồi một ngày ta u hoài, than thở trong “tình nhớ”, “tình sầu” vì “tình xa”. Một buổi chiều, tóc trắng như vôi ta mới thảng thốt nhận ra cái thân phận mong manh của một – kiếp – sống – con –  người. Hình ảnh “Chiều hôm thức dậy/ ngồi ôm tóc dài/ Chập chờn lau trắng trong tay” gợi ta nhớ đến những ca từ trong “Cát bụi”:

“Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày”

Trong cảm thức thời gian và thân phận con người của Trịnh Công Sơn, ta luôn luôn bắt gặp hình ảnh một con người đi và về trên hành trình vô tận, trong một bi kịch tâm trạng của những lỡ làng, xót tiếc. Phải chăng vì thế mà ông đã viết hẳn một ca khúc là “Một cõi đi về”? Và ở “Chiếc lá thu phai” ta cũng gặp cái hành trình đi về trên con đường đời thiên lý, vô tận đó. Dĩ nhiên, cái vế đi đã bị giấu kín, chỉ được gợi ra trong cái vế của con người trở về:

Về thu xếp lại
Ngày trong nếp ngày
Vội vàng thêm những lúc yêu người.
Cuồng phong cánh mỏi
Về bên núi đợi
Ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay.

Dường như cái bi kịch lỡ làng của tâm trạng kia là khởi nguồn từ những muộn màng trong đời. Khi anh trở về thì thu đã xếp lại, mùa đã qua, chỉ còn héo úa, tàn tạ. Vội vàng yêu người rồi đành nhìn người ra đi, chấp nhận nỗi đau mất người. Dù có vội vàng, cuống quýt đến mấy thì anh cũng đâu níu giữ được người, níu giữ được đời, níu giữ được chính bản thân anh. Những ca từ như trĩu xuống, như một tiếng thở dài than van, buồn bã, đầy cô đơn và tuyệt vọng. Tất cả đã trở nên mỏi mệt, rã rời. Cuồng phong cánh cũng đã mỏi. Tất cả bây giờ chỉ còn là đợi chờ, đợi chờ một kết thúc, đợi chờ một ngày sau cho “sỏi đá cũng cần có nhau”.

Mỏi mòn vì chờ đợi nên đá cũng đáng thương vì đá mang nỗi ngậm ngùi ngàn năm. Hình ảnh này gợi ta liên tưởng đến những đá Vọng Phu ngàn năm chờ chồng đi xa làm nên những núi đợi. Những cuồng phong của cuộc đời đã quét sạch tất cả những hạnh phúc, những lúc yêu người. Chính lúc con người bừng tỉnh cũng là lúc họ nghĩ đến kết thúc cuộc đời mình, họ đã thấy lau trắng chập chờn trong tay. Và họ… trở về. Ta như cảm nghe được ở đâu đó những âm thanh ngân vang của ca khúc “Phôi pha” dội về đây:

Thôi về đi
Đường trần đâu có gì
Tóc xanh mấy mùa
Có nhiều khi
Từ vườn khuya bước về
Bàn chân ai rất nhẹ
Tựa hồn những năm xưa

Photobucket

Nhưng ở “Chiếc lá thu phai”, kết cấu ca từ có đặc biệt hơn bởi có hai đoạn điệp khúc khác nhau. Bản thân ca khúc không có hai lời nhưng lại có đoạn điệp khúc thứ hai như nhấn vào những cảm xúc, cảm giác của con người được bật lên từ những dư âm, những dư ảnh và dư tình trong quá vãng. Quá vãng trở về trong hiện tại, hòa trộn với cái thực tại. Ảo – thực đan xen với nhau để lại những nỗi niềm nhói buốt đến tái tế:

Nằm nghe giữa trời
Giòn vang tiếng cười
Điệu kèn ai buốt trong tôi.
Mùi hương phấn người
Một hôm nhớ lại
Hẹn ngày sau sẽ mua vui.

[​IMG]

Vẫn tiếng cười, vẫn điệu kèn ấy nghe sao mà sắc buốt tâm can. Phải chăng vì nó đã quá xa, rồi nó cũng sẽ chẳng còn mảy may là một bóng hình, hay một dư vang. Tiếng kèn gọi tâm hồn con người trở về thực tại để đi đến cái điểm kết thúc một hành trình đời, một thân phận bé nhỏ, phù du của chúng sinh. Một thoán hương xưa, cũng là chút dư tình còn sọt lại chợt dâng lên trong một ngày tình nhớ khiến con người thấy ấm áp. Một cuộc đời, một kiếp sống khép lại nhưng những hẹn hò thì không hẳn đã khép. Lời chia tay đã nói nhưng biết đâu ngày sau sẽ hạnh ngộ. “Hẹn ngày sau sẽ mua vui” – cũng là hẹn hò một cuộc đời mới, một cuộc tình mới. Dẫu biết rằng cuộc đời là khoảnh khắc, thân phận là mong manh, cả tình yêu và hạnh phúc như loài hoa sớm nở tối tàn, nhưng cuộc đời vẫn luôn mở ra nhiều niềm vui và hạnh phúc. Cho nên chính Trịnh Công Sơn đã viết:

Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa…”

[​IMG]

“Chiếc lá thu phai” đã mang theo bao mùa xuân sắc, chỉ còn chút hơi tàn, gầy guộc đến mong manh. Người cũng đi tìm đến bến yên lành, chỉ có tôi “ngốc dại” nên đành bơ vơ, biến mình thành “khô héo” như cánh vạc buồn rong ruổi miên man một cõi. Tóc đã phai bao mùa chẳng nhớ người ơi…

“Người đâu mất người

Đời tôi ngốc dại

Tự làm khô héo tôi đây”

Người đi một chút hương xưa còn xót lại, mùa thu cũ năm nào cũng đã phôi phai. Ta im lặng nghe giữa đời đau nhói, giờ mỉm cười hẹn hội ngộ mai sau.

Read Full Post »


Thiên tài và nhân cách trong con người của Đông Tà Hoàng Dược Sư

Đọc võ hiệp Kim Dung, tôi cứ trăn trỡ mãi về một nhân vật khó hiểu: Đó là Hoàng Dược Sư. Không biết tự bao giờ, hình ảnh về một con người tài hoa, cô độc đã ngấm sâu vào góc sâu nhất trong tâm hồn của tôi. Hoàng Dược Sư, hiệu Đông Tà, biệt hiệu Hoàng Lão Tà là nhân vật trong tiểu thuyết Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung. Ông cũng xuất hiện trong bộ truyện tiếp theo Thần Điêu Hiệp Lữ. Hoàng Dược Sư vốn là đệ tử của phái Thanh Hải dưới sự dẫn dắt của sư phụ Triệu Bất Phàm. Hoàng Dược Sư và con gái của sư phụ yêu nhau nhưng vì sư phụ kiên quyết ngăn cản, cô gái đã tự vẫn. Hoàng Dược Sư mang mối hận thù trong lòng và rời khỏi phái, quyết tâm tập luyện võ nghệ. Ít năm sau, khi võ nghệ đã tiến triển vượt bậc, Hoàng Dược Sư quay lại tìm phái Thanh Hải để trả thù nhưng Triệu Bất Phàm đã kịp chạy sang Thiết Chưởng bangcầu cứu chưởng môn Thượng Quan Nam và Cừu Thiên Nhận. Trong một lần đến Thiết Chưởng bang để bắt Triệu Bất Phàm, Hoàng Dược Sư đã giao đấu với Thượng Quan Nam và bị thương nên phải bỏ về. Thượng Quan Nam cũng bị trọng thương, nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, ông kiên quyết giữ chữ tín, không giao Triệu Bất Phàm. Điều này trái với ý của Cừu Thiên Nhận, một kẻ tâm địa ác độc, tham sống sợ chết. Lợi dụng lúc Thượng Quan Nam đang bị thương, Cừu Thiên Nhận đã giết chết ông, đoạt chức chưởng môn, đồng thời đổ tội lên đầu Hoàng Dược Sư. Sau đó, để được yên thân, Cừu Thiên Nhận đã giao Triệu Bất Phàm cho Hoàng Dược Sư. Sau khi giết Triệu Bất Phàm để trả thù cho người tình xưa, Hoàng Dược Sư cấm không cho các đệ tử còn lại của phái Thanh Hải sử dụng võ công của phái, kết thúc môn phái tại đây.

Trên đường lưu lạc giang hồ, Hoàng Dược Sư vô tình lạc vào đảo Đào Hoa. Chủ nhân đảo là một người tính tình cổ quái, thích thách đố người khác. Bằng tài năng và sự tinh tế của mình, Hoàng Dược Sư đã thắng cược và đoạt được đảo Đào Hoa. Sau lần Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, Hoàng Dược Sư được xếp vào Thiên hạ ngũ tuyệt (bên cạnh Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, Nam Đế Đoàn Trí Hưng, Tây Độc Âu Dương Phong và Bắc Cái Hồng Thất Công), danh xưng là Đông Tà. Tiếp đến, Hoàng Dược Sư nhận 6 đệ tử là Khúc Linh Phong, Lục Thừa Phong, Trần Huyền Phong, Mai Siêu Phong, Vũ Thiên Phong và Phùng Mạc Phong. Ông lại lấy nữ sĩ Phùng Hằng làm vợ, sinh raHoàng Dung. Phùng Hằng không biết võ công nhưng lại có một trí nhớ siêu việt. Ngay sau đó, Phùng Thị vì tổn hao tâm lực viết lại Cửu Âm chân kinh (bà đã dùng mưu kế để mượn từ tay Châu Bá Thông và học thuộc lòng toàn bộ ngay tại chỗ), lại thêm sinh nở khó khăn nên qua đời. Tiếp đó lại xảy ra chuyện Trần Huyền Phong và Mai Siêu Phong lấy cắp quyển hạ Cửu Âm chân kinh trốn đi. Hai sự việc này khiến Hoàng Dược Sư bị chấn động mạnh về tâm lý. Ông đánh gãy chân những đệ tử còn lại, đuổi ra khỏi đảo, lại nhốt Châu Bá Thông trên đảo Đào Hoa. Từ đó, Hoàng Dược Sư một mình nuôi con. 

Nhan sắc thật của Tiểu Long Nữ thách thức các "anh hùng bàn phím" 6

Là “Đông Tà” độc nhất trong “Thiên Hạ Ngũ Tuyệt”, là Đàn Chỉ Thần Thông vừa nhanh, chuẩn, lại đẹp mắt, để cho người đời nghe đến là sợ, hậu nhân bao đời vẫn bái phục mà đặt cho tên gọi “tuyệt thế công phu”; là Lạc Anh Kiếm Thần Chưởng ảo diệu khôn lường, cũng không kém phần sâu sắc, thâm hậu, làm điên đảo bao cao thủ với bóng hình thấp thoáng của cánh đào phiêu lãng; là Bích Hải Triều Sinh khúc, đoạn nhạc độc nhất do một chiếc ngọc tiêu độc nhất và một con người độc nhất tấu lên: sầu khổ, cô độc, ai oán, bi thương, da diết, mông lung, hoan hoải,…; là Ngọc Tiêu kiếm pháp, những đường kiếm rồng múa phượng bay, ẩn chứa uy lực kinh hồn; cũng có thể nhỏ nhoi như Tảo Diệp thoái pháp, thoáng ẩn thoáng hiện như phi thiên thần long; …
Võ công đó, chỉ với 3 chữ “nhanh, đẹp, chuẩn”, hiệu quả mà độc đáo. Vương Trùng Dương cả đời chìm trong vòng luẩn quẩn của chính bản thân: vô vị, nhạt nhẽo; Bắc Cái Hồng Thất Công nhân nghĩa, hào hiệp, sảng khoái nhưng vẫn có đôi chút thô tục của kẻ thất phu; Nam Đế Đoàn Trí Hưng cũng là bậc tao nhân hiếm có, nhưng không thể có được phong cách ngạo mạn, đứng trên tất cả được; Tây Độc Âu Dương Phong cũng sánh với chữ “ác độc”, nhưng có ai biết rằng “tà ác” khác hẳn với “ác độc” chăng? Nếu nói tôi phủ nhận những tài năng của những nhân vật còn lại trong “Ngũ Tuyệt”, tôi cũng không phàn nàn gì, nhưng nếu nói tôi vịn vào đó để ca ngợi Đông Tà Hoàng Dược Sư, tôi xin phản bác ngay. Tài năng của ông, không phải là dìm người khác xuống, để mình đứng ở vị trí độc tôn, mà là do công sức của ông, khổ công một đời gây nên. Nếu không, người đời có bao giờ gắn những câu như “Cầm Kỳ Thi Họa, Y Bốc Tinh Tướng, Kỳ Môn Đôn Giáp, Ngũ Hành Bát Quái, … không môn nào không biết, không môn nào không tinh đạt đến mức độ đăng phong tạo cực”, “Cái gì cũng thấu, cái gì cũng giỏi, mà không chỉ giỏi mà phải là giỏi nhất”

Ngoại hiệu của Hoàng Dược Sư là Đông Tà. Chữ Tà trong biệt danh của ông nghiêng về nghĩa tà ma ngoại đạo, như chính ông tự nhận. Hành sự không theo bất cứ khuôn phép, lề lối gì, chủ yếu chỉ tập trung vào 4 chữ: Ta thích thì làm, Hoàng Dược Sư chính là biểu tượng cao nhất của sự tự do, phóng khoáng và khát vọng đập tan mọi giới hạn, ranh giới lễ nghĩa, giáo điều.

Võ học của Hoàng Dược Sư chưa hẳn đã là đệ nhất thiên hạ, nhưng sở học của ông lại rộng lớn và mênh mông như biển. Đồ đệ Mai Siêu Phong, Trần Huyền Phong của ông dù chỉ học được lõm bõm đôi chút sở học của thầy, nhưng cũng đủ để hoành hành thiên hạ với biệt danh Hắc Phong Song Sát. Đại đệ tử Khúc Linh Phong dù một thân tàn phế, nhưng vẫn có thể ra vào đại nội trộm báu vật như chỗ không người, khi bị phát hiện vẫn có thể đồng vu quy tận cùng cao thủ trong cung. Hậu duệ của Khúc Linh Phong dù ngớ ngẩn, tâm trí như đứa trẻ lên ba, nhưng dưới sự dạy dỗ của Hoàng Dược Sư vẫn có thể miễn cưỡng đánh ngang tay cùng võ lâm cao thủ.

Sự thông tuệ của Hoàng Đảo Chủ không chỉ nằm trong mỗi võ học. Cầm kỳ thi họa, kỳ môn độn giáp, không môn nào ông không phải đại tông sư. Thậm chí ngay trong võ học, ông cũng tự mình sáng tạo ra hầu hết những lộ võ công lợi hại. Lạc Anh Thần Kiếm Chưởng, Ngọc Tiêu Kiếm Pháp hay Bích Hải Triều Sinh Khúc đều là những thứ tuyệt học do chính Hoàng Dược Sư nghĩ ra, chứ không phải học từ một vị danh sư nào hết. Trong truyện Kim Dung, chỉ có những bậc đại tông sư khai môn lập phái mới có thể tự nghĩ ra một môn võ công của riêng mình và phải mất cả đời mới có thể hoàn thành một môn tuyệt học, nhưng đối với Hoàng Dược Sư, việc sáng tạo ra một môn võ công khác đối với lão cũng chỉ ngang bằng với việc… ăn cơm.

 7bd354a5-2fd8-446e-8a65-0fb1615b08f6[1]

Còn nhớ, khi sinh lòng hối hận về việc đánh gãy chân các đệ tử rồi đuổi khỏi Đào Hoa Đảo, Hoàng Dược Sư đã bỏ vài năm trời nghĩ ra một lộ thân pháp đặc biệt có tên Toàn Phong Tảo Diệp Thoái. Khi tập luyện lộ thân pháp này, đôi chân tàn tật của các đệ tử sẽ hồi phục dần dần và có thể đi lại được. Dù không thể tập luyện võ công như người bình thường, nhưng đó cũng đã là một điều phi thường tốt đẹp đối với những người tàn phế nhiều năm

Thuật kỳ môn ngũ hành ảo diệu cũng là tuyệt học của Hoàng Dược Sư. Chỉ dựa vào một môn tuyệt học này, những truyền nhân của đảo Đào Hoa từng không ít lần chuyển bại thành thắng, hoặc thoát chết dưới tay những đại cao thủ có võ công lợi hại gấp nhiều lần. Ngay trên Đào Hoa Đảo của Hoàng Dược Sư, các cao thủ võ lâm cũng đều bị trói buộc bởi trận pháp biến hóa kì diệu của lão như cá nằm trong rọ.

38f9eeac-1762-4317-9fc9-74097171130d[1] 

Trong tên gọi của Hoàng Dược Sư còn có cả chữ "dược". Ngoài việc là cao thủ võ lâm, lão còn tinh thông cả y học hệt như một vị danh y. Cửu Hoa Ngọc Lộ Hoàn do ông sáng chế được liệt vào dạng thánh dược trong thiên hạ. Còn nhớ khi Nam Đế bị tổn thương nội lực trầm trọng khi chữa trị cho Hoàng Dung, khi nhìn thấy Cửu Hoa Ngọc Lộ Hoàn đã mừng rỡ mà rằng: Có thứ thánh dược này thì thương thế của ta sẽ rất nhanh hồi phục!

Trong truyện, Kim Dung ít nhắc tới sở học văn chương của Hoàng Lão Tà. Nhưng chỉ thông qua hình tượng Hoàng Dung, người ta có thể hình dung phần nào về tài năng và trí tuệ của Đào Hoa Đảo chủ. Chỉ được "nghe lỏm" cha bình sách, nói chuyện văn chương, Hoàng Dung thậm chí còn có thể khiến trạng nguyên Đại Lý phải nghiêng mình thán phục. Những câu đối tưởng chừng làm khó được tất cả kẻ sĩ trong thiên hạ thì khi vào tay Hoàng Dược Sư, nó cũng chỉ giống như một thú vui giải trí lúc nhàn đàm…

Tài năng xuất chúng của Hoàng Dược Sư trong đủ mọi lĩnh vực đủ để ông ngạo thị thế gian. Trong võ học, ông là bậc đại tông sư. Hoàng Dược Sư ngông cuồng và cao ngạo bậc nhất trong Kim Dung truyện. Nhưng ông có đủ bản lĩnh để làm điều đó. Xét về văn chương, ông có thể sánh ngang với những bậc đại khoa. Tài văn chương của Hoàng Dược Sư có thể dùng để chỉ trích thánh nhân, phản biện lại sai lầm trong những lời vàng, thước ngọc của cổ nhân.

Còn luận bàn về ngạo khí, chẳng ai dám xếp trước ông ở ngôi đầu thiên hạ! Chẳng những đập bàn cười nhạo "Thánh nhân thối lắm", cái "tà" của Hoàng Dược Sư còn nằm ở chỗ vượt ra khỏi mọi khuôn phép, giáo điều phong kiến. Bậc cổ nhân vĩ đại, tài giỏi là thế, đóng góp cho thế giới nhiều là thế, nhưng ông coi bằng “không”. Nào Khổng Tử, nào Gia Cát Lượng, nào Quan Vũ, nào Tống Giang, nào thần nào thánh, … tất cả trong mắt ông chỉ là một đống sắt phế liệu, hoặc thậm chí còn tồi tệ hơn. Lối suy nghĩ táo bạo, độc đáo như vậy cũng không thật quá quắt cho lắm, người ta tài năng như vậy, người ta có quyền chỉ trích người khác. Những kẻ sĩ coi đó là bá đạo, tà ác, ông mắng lại bọn chúng là lũ đạo đức giả, ôi đấng quân vương tôn kính như “Thiên tử” là thế, ông nói đó là hạng bần cùng đi học đòi, bắt chiếc lối thư họa tinh hoa, không lo làm nổi một việc cỏn con là trị nước; ông dạy cho bọn đồ gàn, quan gia, trọc phú cái gì gọi là “suy nghĩ của một người có óc”. Ông chửi thẳng vào mặt những bậc chính nhân quân tử, luôn mồm tự khen mình là đấng “hào hiệp, trượng nghĩa, cứu nhân cứu thế” mà đằng sau là sự hèn mọn, thấy khó là tránh, trông nguy là bỏ, chỉ được “tuyệt kỹ” chuồn là công phu thứ thiệt. Lời nói của ông, chính xác hơn là sự vạch trần của bộ máy thối nát của xã hội phong kiến bấy giờ, là một khối thị phi hỗn loạn. Những thứ lễ nghĩa Nho giáo vốn được tôn sùng như vàng ngọc trong thời đại ấy, nhưng dưới mắt ông chỉ là thứ "ăn thịt người không chịu nhả xương". Sự cấp tiến trong đầu óc và nhận thức của Hoàng Dược Sư khiến ông trở thành một "lão tà" trong mắt mọi người, nhưng thật sự, tri thức của ông lại đi trước thời đại của mình rất nhiều.

1402c3f3-7c55-46c3-ba92-93d6fe6586f6[1]

Hoàng Dược Sư nhìn thấy rõ những điều vô lý, bất cập giấu sau những "tam tòng" cổ hủ, nhìn thấy rõ mưu đồ ích kỷ ẩn sau những câu chuyện trung quân "quân xử thần tử, thần bất tử bất trung". Ông cũng đọc được hết những mù quáng, dốt nát của những vị được coi là trung thần, thánh nhân thời đó. Những thứ quy tắc, tư tưởng mà phần lớn trí thức, người thời đại đó mù quáng tin tưởng như một chân lý thần thánh thực chất chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị hoặc mang lại những điều thiếu công bằng.

Từ chuyện lòng trung thành đối với vua phải được đặt lên đầu tiên, bất chấp đúng sai hay chuyện thân phận người phụ nữ bé mọn và hèn kém như con sâu cái kiến trong thời phong kiến, tất cả những điều đó, Hoàng Dược Sư đều có thể nhìn ra. Cái nụ cười ngạo nghễ của Đông Tà không phải là nụ cười của một kẻ cuồng nhân ngạo ngược, mà là thái độ của một bậc đại trí giả trước những điều nực cười trong cuộc sống mà ông nhìn thấy được.

Nhưng, dù vượt ra khỏi mọi vòng khuôn phép hay lễ nghĩa, con người của Hoàng Dược Sư vẫn bị ràng buộc bởi một điều: Nhân cách và khí khái. Đó là lúc ông quỳ lạy trước thủ cấp của một nhà nho trung nghĩa bị Âu Dương Phong cắt đầu, bởi "Bình sinh ta rất khâm phục những bậc trung thần nghĩa sĩ". Hay lúc bị Xích Luyện Tiên Tử Lý Mạc Sầu khích bác chuyện không có nổi một người đệ tử ra hồn, vị bá chủ một phương kia cũng cam chịu nín lặng, nuốt giận vào lòng, chứ không thể bất quản thân phận ra tay đối phó với kẻ hậu bối kia. Riêng về điều này, Hoàng Đảo chủ hơn xa Tây Độc – kẻ vì lợi mà bất chấp tất cả mọi thứ, kể cả thân phận của một đại tông sư.

Cách Hoàng Dược Sư khư khư giữ hình bóng của người vợ trong tâm khảm cũng là một điều đặc biệt trong con người của lão. Gần 20 năm kể từ sau khi vợ mất, một nửa con người tài hoa của Hoàng Dược Sư cũng đã mất theo bóng hình ấy. Thậm chí, vị đảo chủ thiên tài kia còn chuẩn bị sẵn chiếc hoa thuyền lộng lẫy để cùng vợ chìm xuống đáy biển sâu, trong tiếng ngọc tiêu thanh thản và dìu dặt.

Một thân bản lĩnh kinh thiên động địa như Hoàng Dược Sư rốt cuộc cũng chỉ là vô nghĩa trước sự mất mát, đau thương của ái tình. Chính sự trọng tình nghĩa quên sống chết ấy mới là sự khác thường lớn nhất trong con người của Hoàng Dược Sư, chứ không phải những câu chuyện kì lạ xây dựng quanh cuộc đời của lão…

Những điều bảo thủ nhất trong con người của Hoàng Dược Sư xuất phát từ chính cái tâm cao ngạo của một thiên tài. Khi bị hiểu lầm là kẻ hạ thủ giết chết các sư phụ của Quách Tĩnh, Hoàng Dược Sư vẫn không chịu giải thích nửa lời, bởi: "Bao nhiêu chuyện xấu trên thiên hạ, người ta đều đổ hết lên đầu Hoàng Lão Tà ta, thêm một chuyện nữa nào có sá gì?".

Hay như chuyện những gia nhân câm điếc trên Đào Hoa Đảo thực chất chỉ là những người khuyết tật được lão đưa về nuôi nấng, lão cũng mặc kệ trước lời đồn đại chính mình hạ thủ để giữ bí mật chốn nương thân. Và còn bao nhiêu lời đồn đại khác biến Hoàng Dược Sư trở thành đại ma đầu khát máu không nhân tính, lão cũng bỏ hết ngoài tai như một chuyện tầm phào…

Con người Hoàng Dược Sư hỉ nộ bất thường, nhưng âu đó cũng là chuyện quen thuộc của những thiên tài. Trong cơn giận dữ, lão có thể làm những điều thiếu suy nghĩ, nhưng ngay sau đó lập tức hiểu ra được sai lầm của mình và âm thầm sửa chữa bằng mọi cách. Không phải ngẫu nhiên mà những người đệ tử bị biến thành tàn tật dưới tay lão vẫn một lòng hướng về Đảo Đào Hoa, sẵn sàng hi sinh cả tính mạng để bảo vệ cho sư phụ. Ngay cả những địch thủ không đội trời chung với lão cũng phải gật đầu khen thầm: Hoàng lão tà quả không hổ danh là đại tông sư một đời. Đám đồ đệ, đồ tôn dù chịu trăm cay ngàn đắng bởi lão nhưng vẫn coi lão như thần thánh, chứ không mảy may oán hận!

Cửu Chỉ Thần Cái Hồng Thất Công cũng dành cho Hoàng Dược Sư sự tôn trọng hiếm hoi. "Anh hùng trong thiên hạ chỉ có sứ quân và lão khiếu hóa thôi". Dù cả cuộc đời, Hoàng Dược Sư chưa khi nào tự nhận mình là bậc anh hùng, thậm chí còn ưa thích với cái danh hiệu tà ma ngoại đạo, nhưng cả cuộc đời ông đều bộc lộ bản sắc của một đấng anh hùng khí phách. Những cái "tà" nếu có, cũng chỉ là cái nhìn vượt thời đại tới từ đầu óc của một nhất đẳng thiên tài như Hoàng đảo chủ…

Read Full Post »

Older Posts »

%d bloggers like this: