Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Thư giãn’ Category


Lan Man Chuyện “Tám”
Mình thứ tám trong gia đình, lớn lên đi làm nhờ có chút địa vị nên ít người gọi tên mà thường gọi thứ như: Chú Tám, Anh Tám. Có điều mình bức xúc là thứ Tám hay được dùng trong một số tiếng lóng chỉ những sự “không hay” như “bà Tám” chỉ người nhiều chuyện, “bỏ đi Tám” là người nói cố ra vẻ ta đây …. Tôi tìm hiểu hoài nhưng ít có giải thích thỏa đáng nên tự nghĩ ra cách giải thích của mình cho bạn bè nghe chơi. Ai có cùng thứ Tám như mình thì có ý kiến thêm.
1. TÁM LÀ NHIỀU CHUYỆN
Tám là nhiều chuyện, là nói nhiều. Chắc chắn đây là tiếng lóng miền Nam, còn ngoài Bắc thì người ta thường nói là buôn dưa lê (dù nghĩa có hơi khác chút xíu).
Tại sao người ta nhiều chuyện lại là 8, mà hổng phải 6, 7, 9…? Có người giải thích là do hồi xưa trên radio có chương trình bà Tám kể chuyện cho con nít nghe. Có người nói do hồi xưa có tổng đài 108 (và 1088) chuyên trả lời thắc mắc đủ thứ trên đời.
Tôi hổng tin lắm, vì kể chuyện đời xưa như bà Tám hay giải đáp thắc mắc qua 1088 đâu có đúng kiểu 888 như bây giờ!
Hay là tại mấy bà thứ Tám nói nhiều hơn mấy bà thứ Sáu, Bảy?. Hổng chắc, vì đã là phụ nữ đâu có… bà nào “tám” thua bà nào!
Cái cảm giác cá nhân của tôi là âm Tám nghe có vẻ… bép xép, lắm điều hơn mấy con số khác (thử đọc Chín coi, đọc một cái là nghe… nín liền!)
Tuy nhiên, theo An Chi thì “Tám” (nhiều chuyện) có xuất xứ như sau:
“Bà Tám” là một hình thức sao phỏng (loan translation), có lẽ bắt đầu ở tiếng Việt miền Nam. Mà ở miền Nam thì bắt nguồn từ tiếng Quảng Đông là “pát phò”
[八婆], đọc theo âm Hán Việt là “bát bà”, dịch đúng nghĩa gốc là “bà tám”. Đây là một đặc ngữ của tiếng Quảng Đông ở Hồng Kông, dùng để chỉ người phụ nữ hay để ý hoặc bàn tán đến chuyện của người khác; hiểu rộng ra, là người đàn bà nhiều chuyện. Ở những địa phương khác của Trung Quốc gọi hạng đàn bà này là “trường thiệt phụ” [長舌婦], nghĩa đen là “con mẹ lưỡi dài”.
Trực tiếp đóng góp vào sự ra đời của danh ngữ “Bà Tám” này trong tiếng Việt là dân làm ăn liên quan đến làng điện ảnh và truyền hình. Sau khi phim Tàu, đặc biệt là phim Hồng Kông nói tiếng Quảng Đông, được một vài đài truyền hình phát sóng thì phát sinh yêu cầu phải thuyết minh hoặc lồng tiếng. Để làm vậy, trước hết phải dịch. Khốn khổ thay, người dịch có lẽ cũng chạy theo nhịp điệu hối hả của thị trường chứ nào thực sự yêu mến tiếng Việt, thực sự thấu hiểu từ nguyên. Chưa kể trong đó có thể có cả những tay người Việt gốc Hoa thì làm sao tránh khỏi chuyện “pát phò” trở thành “bà tám”! Trong khi đó, tiếng Việt đâu có thiếu từ, ngữ tương ứng với khái niệm “con mẹ Tám” của người Quảng Đông!
“Bà Tám” dần dần đưa đến từ “Tám” phát sinh bằng cách ngắt bỏ từ “Bà” đằng trước, nhiều phần cũng là do nhu cầu động từ hóa. Thế là có động từ “Tám” và danh ngữ “Bà Tám” – mẹ đẻ của nó – tồn tại song song trong khẩu ngữ. “Bà Tám” dùng để chỉ những người nhiều chuyện, còn “Tám” thì dùng để chỉ hành động nhiều chuyện của những người này.
2. BỎ ĐI TÁM
Bỏ đi Tám cũng là tiếng lóng miền Nam, nhưng khác với Tám với ý nghĩa nhiều chuyện là nó ra đời rất lâu trước 1975 (và bây giờ ít dùng).
Bỏ đi Tám có nghĩa là: Thôi, bỏ đi; bỏ qua đi… với tư cách là một người ở bậc cao nói với người ở bậc thấp hơn (ở đây là mặc định là Tám). Thời trước 1975, từ Bỏ đi Tám dùng khá phổ biến để đến Nhạc sĩ Phạm Duy có nhạc phẩm: Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ qua đi tám. Thế đấy!
Lại tiếp tục câu hỏi: tại sao không là bỏ đi Hai, Ba, Bảy, Chín… mà lại là bỏ đi Tám?
Cũng như trong gia đình, người Sài Gòn xưa đã thẳng thắn phân chia thứ bậc của các tầng lớp xã hội một cách rạch ròi cho dễ dàng ứng xử và giao thiệp hàng ngày ngay từ thời Sài Gòn còn phôi thai mở mang dọc kinh Bến Nghé.
Vị trí thứ NHẤT: Quyền lực cao nhất ở Saigon thời xưa là những quan Tây cầm đầu guồng máy nên không thứ hạng gì cả và không kể là anh em trong nhà.
Vị trí thứ HAI: Đó là các thầy Thông, thầy Phán, thầy Ký là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các "THẦY HAI THÔNG NGÔN", hay "THẦY HAI THƠ KÝ"…
Vị trí thứ BA thuộc về các chú người Trung Hoa, họ gần như nắm trọn guồng máy kinh tế của Sài Gòn. Đó là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống "bang hội" tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các "chú Ba Tàu" nghiễm nhiên là 1 thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó. Họ là chủ các vựa hoặc các doanh nghiệp dọc con kinh Bến Nghé. Gọi CÁC CHÚ BA TÀU là vậy.
Thứ TƯ thuộc về những tay anh chị hùng cứ mỗi người một khu vực và sẵn sàng dùng dao búa để bảo vệ lãnh thổ của mình hay chiếm đoạt lãnh thổ của các tay anh chị yếu hơn. Đó là các "đại ca" giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và "vô thiên vô pháp" nhưng khá "tôn ti trật tự (riêng)" và "có đạo nghĩa" chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm "trẻ trâu" hiện đại. Các "ANH TƯ DAO BÚA" vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.
Phá rối bạn hàng, giựt dọc, chôm chỉa, mánh mung, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm… là những tài mọn của mấy ANH NĂM ĐÁ CÁ LĂN DƯA (đi ngang đá cá văng khỏi sạp cho đứa khác chụp hay lăn cho dưa đổ để đứa khác ôm chạy).
Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các "thầy Sáu phú-lít (police)", "THẦY SÁU MÃ TÀ", "THẦY SÁU LÈO". Thời xưa, Sài Gòn cũng có dân buôn bán vỉa hè và thường bị đuổi bắt. Khi thấy mấy anh quần trắng áo trắng (cảnh sát) với cái dùi cui trắng ló đầu là bạn hàng rối rít: "Anh Sáu tới tụi bây ơi" rồi mạnh ai nấy thu vén hàng gánh chạy thục mạng. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các "thầy Sáu" này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn "hối lộ" của họ để "nhẩm xà" (uống trà). SÁU MÃ TÀ hay SÁU LÈO chính là mấy anh Sáu bạn dân này.
ANH BẢY CHÀ (VÀ) là tên người Sài Gòn đặt cho mấy người Ấn Độ vì họ tuy hiền hòa hơn nhưng cũng có quyền sinh sát trong tay. Họ vừa giàu vừa ít bị "ghét", vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm. Những người Ấn giàu có thì mở tiệm cầm đồ hay cho vay nặng lãi.
Nhân đây nói thêm về Chà Và: Dân mình kêu Chà Và là ám chỉ người Java (Indonesia). Việc xuất khẩu lao động của người Java sang Việt Nam có từ thời rất xa xưa, trước thế kỷ mười tám mười chín. Người Java – tức Chà Và – (thuộc Indonesia) làm gác dan, cho vay tiền, làm thư ký hay kế toán công sở thời Pháp thuộc… Với nhiều người, khi dùng từ Chà Và là để chỉ bao gồm các tộc người vùng biển đảo phía nam Ấn Độ… riết rồi dùng chữ Chà Và để đặt tên hết mấy người Nam Á, miễn là đen thui, tóc quăn, mũi cao, to cao hơn người Việt. Kể cả người Chăm vùng Tân Châu, Châu Đốc có vóc dáng giống như vậy cũng được gọi là Chà Và… Nhắc Chà Và… làm tôi nhớ đên bài hát mà đám con nít chúng ta hồi đó hay ê a: “Chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà, chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà… Chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà, chachacha ma-ní lấy chồng chà-dà…”. Tuy da đen nhưng răng người Java thì trắng nhỡn và đều đặn. Trước năm 1975 hãng kem đánh răng Hynos có lấy hình tượng “Anh Bảy Chà” là bức hình của một người đàn ông Chà Và cười nhe hai hàm răng trắng bóng nhỡn để treo bảng quảng cáo tận hàng cùng ngõ hẽm. Còn trên radio chương trình thương mãi thường ca quảng cáo: Em yêu anh, em yêu anh, anh Bảy Chà da đen!
Bây giờ mới đến anh Tám. Đó là những tá điền vì ruộng vườn thất bát từ tứ xứ đổ xô về Sài Gòn, là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lục làm vốn nuôi miệng. Họ làm cu li khuân vác, gánh nước bồng em, hay khá hơn chút thì thuê được một chiếc xe kéo để kéo đưa các thầy Hai, chú Ba đi làm đi ăn. Họ là những chị Tám đi ở đợ đêm đêm tụ họp ở những phông tên công cộng chờ chực gánh về từng đôi nuớc cho chủ. Họ chỉ mong đánh đổi sức lao động của mình kiếm được miếng cơm cho mình và cho gia đình mòn mỏi chờ trông.
Tận cùng xã hội là những người chỉ có thể đánh đổi cái vốn sẵn có của mình để mong thoát khỏi cái số con rệp từ khi mới sinh ra. Họ là những chị CHÍN BÌNH KHANG.
Như vậy chữ Tám trong bỏ đi Tám chính là chỉ những người thuộc tầng lớp bình dân, thấp cổ bé miệng này.
Lan man một chút chắc có gì là đúng. Mong bạn bè góp thêm. Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, "bỏ qua đi Tám"!

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Advertisements

Read Full Post »


Chút Thư Giãn: Ông Già Dịch!!!
Để tự tặng mình món quà sinh nhật lớn. Một người đàn bà trung niên quyết định sẽ đi viện thẩm mỹ để "lột da mặt". Sau khi bác sĩ hoàn tất mọi việc. Chị X. (tên của người đàn bà trung niên) soi gương và rất hài lòng với kết quả thẩm mỹ.
Trên đường về chị X. ghé lại sạp báo để mua tờ báo xem. Sau khi trả tiền, một ý định lóe trong đầu, chị X. hỏi cô bán báo: “Cô có thể đoán dùm thử tôi bao nhiêu tuổi?”. Cô bán báo nhìn chị một lát rồi trả lời: “Tôi đoán chị khoảng 32”. Chị X. trả lời một cách hãnh diện: “Cám ơn cô, nhưng tôi đã 47 tuổi”.
Chị X. cảm thấy đói bụng nên ghé tiệm bán bánh mì mua một ổ. Lúc trả tiền, chị cũng hỏi cô bán hàng câu hỏi trên. Cô bán hàng trả lời: “Tôi đoán chị khoảng 29”. Chị X. cũng hãnh diện nói lại: “Tôi đã 47 tuổi, nhưng cám ơn cô”.
Chị X. cảm thấy rất yêu đời và vui vẻ, chị ghé vào tiệm thuốc Tây để mua một tube "kẹo thơm". Khi trả tiền thì chị cũng hỏi cô thu ngân câu hỏi này. Cô thu ngân trả lời: “Tôi đoán chị khoảng 30”. Và chị X. cũng hãnh diện nói tuổi thật của mình.
Ở trạm đón xe buýt về nhà, trạm vắng người. Trong khi chờ đợi, chị hỏi một người đàn ông già đang chờ xe buýt với chị câu hỏi này. Thì cụ già trả lời:
-Thưa cô, năm nay tôi đã 78 tuổi rồi và mắt rất yếu. Nhưng tôi nhớ lúc tôi còn trẻ thì có một cách để đoán rất chính xác tuổi của phụ nữ. Và cách này thì tôi phải "khám ngực" của người đó thì mới đoán tuổi đúng được.
Chị X. im lặng suy nghĩ một hồi, cuối cùng thì "lòng tò mò" đã thắng. Chị đồng ý cho cụ già "khám ngực”. Cụ già khám xét, nắn bóp … ngực của chị X. một cách rất cẩn thận. Khoảng vài phút thì chị X. sốt ruột hỏi cụ già:
– Đã đoán được chưa?
Cụ già thong thả "bóp" cái cuối cùng và rút tay nói:
– Thưa cô! Tôi đoán năm nay cô 47 tuổi.
Chị X. rất là ngạc nhiên:
-Thật là khó tin đây là chuyện có thật. Ông có "bí quyết" gì mà chỉ cần "khám ngực" thôi mà ông đã đoán được tuổi của tôi một cách rất chính xác vậy?
Cụ già trả lời một cách rất bình tỉnh:
– Thưa cô! Bí quyết đó là tôi đã đứng chờ phía sau cô ở tiệm bán bánh mì.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng

Read Full Post »


Lan Man Chuyện “Già Dịch”
Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ học, tôi hoàn toàn mù tịt về xuất xứ của hai chữ "Già Dịch". Chẳng biết từ kép này do ông, bà nào "sáng chế" ra để miệt thị những đấng cao niên ít nhất cũng đến tuổi "ngũ thập tri thiên mệnh" chứ dưới năm mươi thì ai dám gọi là lão già.
Đầu tiên tôi nói đến cái từ "già": Theo như quan niệm tuổi tác ngày nay chứ như thời xa xưa lúc nền y học đang còn phôi thai thì mấy ai sống thọ đến tuổi năm mươi. Chẳng thế mà trong sách truyện ngày xưa khi mô tả một người đàn ông ngũ tuần thì bao giờ cũng là: "một ông hay một lão già trạc tuổi năm mươi" hay trang trọng hơn thì sẽ là "một lão trượng tuổi ngoài năm mươi" hoặc là trong các bài luận văn của học trò bậc tiểu học ngày nay đăng trên mạng: "Nhà em có "nuôi" một ông nội. Ông em chừng năm mươi tuổi".
Các vì vua chúa của nước ta và Trung quốc cũng thế, dù hưởng không biết bao nhiêu là của ngon vật lạ trên đời, phục dụng không biết bao nhiêu là phương thuốc thần diệu mà rốt cục cũng chẳng mấy vị sống quá năm mươi. Chả lẽ vì ông vua nào cũng xài phương thuốc của vua Minh Mạng nước ta: "Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử" nên sức lực chóng hao mòn và ông nào cũng muốn "thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt", nhấn hết ga, tận hưởng lạc thú trên đời cùng tam cung lục viện nên ông vua nào cũng chóng già dù cố gắng kéo dài tuổi thọ bằng cách sai người đi tìm thiên niên hà thủ ô hay thiên niên tuyết sâm hay linh chi thảo, các vị thuốc hiếm quý trong truyền thuyết. Thời xa xưa, tuổi thọ thật ngắn ngủi nên mới có câu "thất thập cổ lai hy". Bây giờ, với tiến bộ của y học, tuổi thọ của con người đã gia tăng quá sá quà sa, so với thời xưa. Chỉ cần lật báo hàng ngày, tò mò đọc các cáo phó sẽ thấy ngay các cụ quy tiên đa số đều quá tuổi bảy mươi, thậm chí có vị còn vượt qua con số “trăm năm trong cõi người ta”. Phải dài giòng văn tự loạn bàn về "cái già sồng sộc nó thì theo sau" như thế để thấy rằng bây giờ muốn gọi ai bằng ông già thì ít nhất người đó cũng phải ở hàng “bảy”. Dĩ nhiên trong hạng tuổi này có cụ vẫn còn phong độ và nhất định bảo “đối tượng” đừng gọi “anh” bằng “chú”. Tôi có ông bạn tuổi đời 6 bó, thân thể còn tráng kiện, mặt mày phương phi, quắc thước, dáng dấp còn "ngon cơm" lắm, chỉ phải cái tội lười biếng không chịu làm đẹp (níu kéo tuổi xuân "bán nguyệt nhất kỳ đáo thẩm mỹ viện", nửa tháng một lần đi nhuộm tóc nên mới thoáng nhìn sơ qua, ai cũng biết là tuổi không còn "xuân" nữa). Lúc đi du lịch Huế, sau khi chễm chệ trên xích lô dạo chơi thành phố, lão ta nhảy xuống xe, trong bụng nghĩ là phải "bo" cho anh chàng đạp xe một ít tiền xài chơi nên hỏi anh chàng bao nhiêu tiền xe vừa rồi. Anh chàng đạp xe kính cẩn thưa:
"Ôn cho bao nhiêu cũng được."
Dân Huế, chỉ dùng chữ "Ôn" để gọi các cụ già khú đế, gần đất xa trời vì thế ông bạn tôi khi nghe vậy thì lòng hậm hực, không vui và tiền "bo" bị giảm bớt khá nhiều theo như ông ta thuật lại cho tôi nghe. Phải chi anh chàng đạp xe xích lô bảo là "Anh cho em bao nhiêu cũng được" thì chắc chắn là có món tiền "bo" lớn rồi.
Già, là bắt buộc, dù không thành văn tự, là trên 60 tuổi đời. Nói theo bài hát “60 năm cuộc đời” của nhạc sĩ Y Vân mà chị Phụng mỗi khi họp mặt bạn bè hay đem ra trình diễn. Còn "dịch" thì thật là thiên hình vạn trạng vì trên đời có rất nhiều thứ dịch như dịch tả, dịch hạch, dịch cúm người và hiện nay là dịch cúm chim (gia cầm) vv….Tôi dịch y chang chữ "bird flu", xin quý vị đừng xuyên tạc chữ “chim” nhé.
Bây giờ đến từ “già dịch”. Tiếng Việt ta vốn phong phú, sinh động nên chỉ có một sự vật mà có thể dùng không biết bao nhiêu từ ngữ để diễn tả. Vậy để được mang danh là "già dịch", theo tôi thì các lão già ấy phải có những HÀNH VI hay NGÔN TỪ mang không nhiều thì ít mang tính chất "dịch" trong đó mới xứng đáng với hai chữ có tính cách miệt thị nhưng đôi lúc cũng là một lời mắng yêu, rất dễ thương và xúc động lòng già khiến cho "bần tăng thấy phơi phới trong lòng". Thử tưởng tượng được một kiều nữ mắng: "cái anh già dịch này nữa…" kèm theo một cái nguýt mắt dài bằng một cây số thì dù bạn đang đi trên đường số 6, số 7 hay số 8, tôi chắc bạn cũng sẽ động lòng xuân mà nhoẽn miệng cười phô hàm răng “giả” trắng bóng đều đặn như hạt bắp.
Thật khó xác định như thế nào thì gọi là "già dịch". Cũng những ngôn từ đó, những hành vi đó, nhưng xuất phát từ một thanh niên thì không bị buộc tội là "dịch". Trái lại nếu là một trưởng lão thì lại bị mắng là "già dịch". Đúng là không công bằng! Không còn gì là "kính lão đắc thọ" hết. Thời đại văn minh nên tôn ti trật tự trong xã hội bị đảo lộn tùng phèo! Thôi thì cũng đành chịu vậy! Thông thường, như tôi nêu ở trên, hai từ "già dịch" nhắm vào những ông già có hành động và ngôn từ mang tính chất trăng hoa, trai gái, bờm xơm kiểu "dê 35"; chỉ những hành động và lời ăn tiếng nói liên quan đến vấn đề "tình dục" (sex). Thí dụ như một anh già bảy mươi mà hay đi cà phê ôm, bia ôm, karaoke ôm, hoặc nhờ mối mai, quăng tiền ra để dụ dỗ gái tơ hay cưới vợ bé, vợ mọn thì chắc chắn một ngàn phần trăm sẽ bị gọi là "già dịch", không chạy trốn đi đàng nào được hết. Kể ra thì cũng khổ cho mấy ông già còn động lòng xuân, tuy tuổi già nhưng tâm hồn còn non trẻ. Ngày xưa, cụ Nguyễn Công Trứ gặp gái tơ trên cánh đồng trống đã khai báo lý lịch tuổi tác là: "Ngũ thập niên tiền nhị thập tam" đâu có nghe ai dám bảo cụ là "già dịch" đâu mà trái lại còn khen ông cụ có số đào hoa, bay bướm, phong lưu mã thượng.
Tuổi tuy già mà chưa cần đến các loại thuốc trợ lực như rượu thuốc ngâm tắc kè, rắn mối, rắn hổ mang, cóc nhái, ễnh ương hay hải cẩu bổ thận hoàn, sâm nhung, Viagra, Cialis, Rocket, Rocket 1 giờ thì tại sao lại không cho mấy ông già này “rấn” thêm. Thiếu gì trường hợp "già mà còn sung". Nói thế thôi, chứ là bác sĩ nên tôi biết: Mấy ông cụ này chỉ hăng tiết vịt một đôi lúc thôi, chứ đa số chỉ đốt pháo xì, đạn dược lép cả rồi nên vì vậy mới bị mắng là "già dịch". Các ông già này dù cho có xài hỗn hợp Viagra cọng thêm rượu thuốc Minh Mạng thì cũng không thể nào "tới bến" được. Trên đây là một loại già dịch rất phổ thông đại chúng. Còn nhiều loại nữa vì chữ dịch mang rất nhiều biến thể. Tôi xin kể một loại dịch khác:
Số là có hai ông già Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Hôm đó hai ông ngồi nhấm nháp trong một tiệm ăn, thấy cách đó mấy bàn một cô gái mắt xanh, tóc vàng đang ngồi solo. Hai ông bèn hứng chí phê bình văn nghệ, văn gừng vung vít, bàn loạn lung tung về núi đồi sông lạch của thiếu nữ hơ hớ tuổi xuân (dĩ nhiên bằng tiếng mẹ đẻ). Một lát sau, thiếu nữ rời quán hàng, đi ngang chỗ hai ông già ngồi, đã đứng lại phán rằng:
-"Hai bác ăn nói trây quá! Già không nên nết, đúng là già dịch!"
Hai lão già thiếu điều cắt mặt quăng cho chó gậm vì nãy giờ tưởng thiếu nữ là Tây chính gốc, ai dè cô ta là dân Việt Nam có 50% máu Tây. Còn nhiều ông già thích “nói trây” cho “đã miệng” mà một bạn già của tôi dúng thuật ngữ “thủ dâm miệng” để mô tả hành vi nói trây đó.
Cũng là "già dịch" nhưng dễ thương hơn, tức là thành phần "trí thức" hơn, thưòng hay tụ họp nhau để ăn uống, tán láo và ôn lại những kỷ niệm thời xa xưa, tán gái cua đào, lăng nhăng đủ ba mươi sáu thứ chuyện trên trần thế, nhắc lại chuyện xưa tích cũ đại loại như là:
"Tao mới gặp con X, trời ơi, ngày xưa nó đẹp như thế, tao mê nó như điếu đổ thế mà ngày nay tao không thể ngờ nhan sắc tàn phai thảm hại khiến tao phải tự bảo từ nay nhất định không muốn tìm gặp lại cố nhân nhan sắc một thời để khỏi phải ngậm ngùi tiếc thương."
Lão già phát ngôn như trên, cùng một trang lứa với tôi, lão ta ngậm ngùi vì vết thời gian hằn rõ nét trên gương mặt giai nhân nhưng lão ta quên nhìn mình trong gương để thấy rằng thời gian cũng đã không buông tha cho lão ta. Đúng là thấy người mà không ngẫm đến ta. Nhưng đấy mới là cái dễ thương của ông bạn già, ông chỉ nghĩ đến tha nhân mà quên bản thân. Nhưng ông ta vẫn bị gán cho hai chữ "già dịch" nếu có người nghe được những phát ngôn của ông liên quan đến một vấn đề mà người ta không muốn cho những ông già tuổi ngoại lục tuần bàn luận đến vì đã qua rồi cái thời vàng son tuổi ngọc mộng mơ. Thật là bất công không thể nào nói hết được! Tức chết đi được mà phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Chẳng lẽ bây giờ về than thở với vợ ư? Đừng có chơi dại mà tâm sự với vợ về những chuyện này. Chắc chắn 100% là sẽ không được thông cảm mà trái lại còn bị nguýt xéo kèm thêm một tiếng "hứ" kéo dài như còi xe lửa và sẽ vuốt mặt không kịp với hai chữ "già dịch" tuôn ra ngay lúc đó.
Riêng tôi, tôi chỉ thích được nghe mắng yêu, đặc sệt giọng Nam bộ: "Thật là cái anh dịch dzật gì đâu…!" Nghe ra âu yếm làm sao! Quý ông bạn già có đồng ý với tôi không? Nếu đồng ý thì cố gắng đi kiếm cho ra người có thể mắng bạn như thế cho lòng xuân phơi phới, thấy mình vẫn còn đường tương chao.

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Read Full Post »

Older Posts »

%d bloggers like this: